linh tây tower

Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa

Một số giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa

                                                                                       Thạc sĩ Trịnh Vĩnh Long -

                                                               Trưởng phòng GDTH, Sở GD&ĐT

 

Thanh Hoá hiện có khoảng 3,6 triệu người, chủ yếu gồm 7 dân tộc anh em cùng sinh sống (Kinh, Mường, Thái, Dao, Thổ, HMông, Khơ-mú); tổng dân số các dân tộc miền núi là 836.707 người. Về tổ chức hành chính, Thanh Hoá có 27 đơn vị huyện, thị, thành phố; riêng 11 huyện miền núi chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh, gồm 102 xã diện đặc biệt khó khăn và 47 xã vùng cao biên giới. Năm học 2017-2018, Thanh Hóa có 679 trường tiểu học (TH), 26 trường liên cấp TH&THCS; có 10.165 lớp TH với 274.948 học sinh (HS), trong đó có 59.340 HS dân tộc thiểu số (DTTS).

1. Thực trạng và nguyên nhân chính

Hầu hết các trường TH vùng DTTS ở Thanh Hóa đều xa khu vực trung tâm, trường được chia làm nhiều khu lẻ, có các khu lẻ cách điểm trường chính từ 8 đến 10 km, đường sá đi lại khó khăn, vẫn còn phải ghép lớp 2-3 trình độ. Việc kiểm tra, đôn đốc của nhà trường và các cấp quản lí giáo dục (GD) vì thế cũng gặp nhiều trở ngại. Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, trang thiết bị dạy học hiện đại còn ít. Phòng học, phòng chức năng, phòng thư viện còn thiếu nhiều.Một số điểm lẻ cho đến thời điểm này vẫn không có điện lưới. HS là người DTTS thường nói tiếng mẹ đẻ là chính, nói tiếng Việt (TV) rất ít, phát âm chưa chuẩn. Nhiều HS còn e dè, nhút nhát, thiếu tự tin khi đến trường. Phong tục, tập quán của  người dân còn nặng nề, lạc hậu; làng, bản có đám cưới, đám tang là HS lại nghỉ học 2-3 ngày, thậm chí hàng tuần. HS đi học không đều cho nên việc giao tiếp TV rất hạn chế. HS con hộ nghèo chiếm đa số. Các em đến trường gặp nhiều khó khăn, như thiếu đồ dùng học tập, sức khỏe của trẻ không đảm bảo, từ đó ảnh hưởng nhiều tới kết quả học tập. HS chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập; trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản, khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế; khả năng chú ý và tập trung vào bài học không bền. HS chậm biết đọc, biết viết; nhiều em đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai; đây là điểm hạn chế lớn nhất.

2. Một số giải pháp

2.1. Giải pháp về quản lí

2.1.1. Đối với sở và phòng giáo dục và đào tạo

Sở có công văn hướng dẫn tổ chức Hội thảo tăng cường tiếng Việt cho HS DTTS ở cấp trường, huyện, tỉnh. Các cấp quản lí GD xây dựng nội dung Hội thảo. Qua hội thảo, nắm rõ được thực trạng, nguyên nhân từ đó đề ra những giải pháp tăng cường TV cho HS DTTS, khắc phục tình trạng HS yếu về TV. Hằng năm, Sở chỉ đạo các cấp quản lí GD mở các lớp tập huấn, chuyên đề; tổ chức tốt việc sinh hoạt định kì, hội thảo, hội giảng. Thường xuyên chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) phù hợp với đối tượng HS và đặc thù của vùng, miền; chỉ đạo giáo viên (GV) thiết kế bài học linh hoạt, không rập khuôn, máy móc; sử dụng triệt để và hiệu quả các đồ dùng, trang thiết bị dạy học được cấp và tự làm. Tăng cường công tác kiểm tra, dự giờ thăm lớp, khảo sát chất lượng HS, trao đổi kinh nghiệm. Chỉ đạo tổ chức các chuyên đề, các cuộc giao lưu cho HS như giao lưu TV của chúng em; mở câu lạc bộ TV để nâng cao vốn TV cho HS.

2.1.2. Đối với nhà trường và giáo viên

Tổ chức dạy tập nói TV cho HS dân tộc trước khi vào lớp 1 và chú ý các biện pháp tăng cường TV trong các môn học, tạo môi trường học tập, giao tiếp bằng TV cho tất cả các học sinh còn yếu về TV. Ở trường, GV có thể sử dụng tiếng dân tộc để hướng dẫn các em thực hiện một số hoạt động học tập, vui chơi, sau đó dần dần chuyển sang sử dụng TV. Tăng cường tổ chức các trò chơi, tạo môi trường GD thân thiện, gần gũi giữa thầy và trò. Rèn cho HS ý thức thường trực phấn đấu vươn lên, kiên trì vượt khó để đi học đều và chăm học, mạnh dạn và tự tin tham gia các hoạt động học tập. Tăng cường công tác Đoàn Đội, các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khoá, tạo không khí vui tươi trong nhà trường, gây hứng thú học tập cho HS, qua đó rèn luyện thói quen sinh hoạt tập thể có nền nếp và mở rộng môi trường giao tiếp bằng TV. Thực hiện tinh giản nội dung, giữ lại các nội dung dạy học cơ bản và quan trọng nhất, theo đúng mức độ cần đạt nêu trong Chuẩn kiến thức kĩ năng (KT-KN) và Hướng dẫn điều chỉnh nội dung các môn học của Bộ. Dành thời gian luyện tập các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết ở mức độ sơ giản trong môn Tiếng Việt, tiến hành kiểm tra thường xuyên trong mỗi buổi học. Hạn chế tối đa sử dụng tiếng địa phương trong dạy học.Tăng cường luyện đọc với các hình thức: cá nhân, nhóm, đồng thanh. Quan tâm lắng nghe, theo dõi, nhắc nhở, uốn nắn kịp thời. Những HS chưa biết đọc, viết, GV phải dạy tăng buổi với nội dung đọc, viết: âm, vần, ghép vần, tiếng, từ, câu, đoạn đơn giản. Thường xuyên kiểm tra, chữa bài chu đáo và động viên HS. Khâu chữa bài phải được thực hiện cẩn thận, tỉ mỉ, qua đó GV chỉ rõ các lỗi của HS; sửa lỗi và hướng dẫn HS sửa lỗi. Thường xuyên đến thăm gia đình HS để trao đổi và động viên cha mẹ HS, nhắc nhở các em học tập, tạo môi trường TV ở gia đình, tạo điều kiện cho các em thường xuyên làm quen với ngôn ngữ TV.

2.1.3.  Đối với phụ huynh HS và Ban đại diện cha mẹ HS

Ban đại diện có sự liên lạc thường xuyên với phụ huynh HS, tạo điều kiện và cơ hội học tập tốt nhất cho HS. Phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc quan tâm kiểm tra và hướng dẫn việc tự học của HS. Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở con cái học hành chuyên cần, chăm chỉ; tăng cường sử dụng TV ở môi trường giao tiếp của gia đình và cộng đồng. Luôn đảm bảo đầy đủ và cập nhật thông tin 2 chiều từ phía nhà trường và từ phía phụ huynh HS về chất lượng và sự chuyển biến về chất lượng HS.

2.2. Giải pháp về chuyên môn

2.2.1. Nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt

2.2.1.1. Giải pháp chung bộ môn

Để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt đối với HS DTTS, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Bố trí những giáo viên nhiệt tình, có trình độ chuyên môn và trách nhiệm cao, là người địa phương hoặc thông thạo tiếng địa phương làm công tác chủ nhiệm lớp và dạy môn Tiếng Việt. Dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng; lựa chọn nội dung, PPDH phù hợp với từng đối tượng HS, phù hợp với địa phương; tăng cường làm đồ dùng dạy học và sử dụng triệt để những đồ dùng dạy học được cấp phát, tăng cường công tác dự giờ đồng nghiệp trong trường và trường bạn. Xây dựng đội ngũ GV cốt cán huyện làm công tác hỗ trợ về chuyên môn cho các trường. Nắm chắc nguyên tắc dạy TV cho HS DTTS: TV là ngôn ngữ thứ hai. Xây dựng môi trư­ờng học TV thuận lợi và  phù hợp (tài liệu, thời gian, thời lượng, ngư­ời dạy, nơi dạy, cách dạy, …). Nội dung, PPDH phải đ­ược chuẩn bị kĩ, chắc chắn; học đâu đ­ược đấy, học gì đ­ược nấy. Vận dụng linh hoạt kế hoạch dạy học; tăng thêm học liệu, tăng thời lượng, đổi mới PPDH. Sử dụng triệt để các tài liệu, học liệu sau: SGK Tiếng Việt; Bài soạn dãn tiết (nội dung trong các tiết học ít hơn, phù hợp với khả năng HSDT); Tranh hướng dẫn HS tập nói; Các bài hát, bài thơ, đồng dao; Các trò chơi; Tập Bài soạn, h­ướng dẫn thực hiện chương trình; Vở bài tập; Truyện tranh chữ to. Thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho HSDT theo hướng điều chỉnh kế hoạch dạy học từ 350 tiết/năm lên thành 500 tiết/năm (phương án tăng thời lượng môn Tiếng Việt).

2.2.1.2. Giải pháp cụ thể trong từng phân môn

a. Học vần

Tạo mọi điều kiện về thời gian để HS được thực hành các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. Tăng thời lượng dạy học Học vần từ 2 tiết lên 3 tiết/bài. Sử dụng triệt để các đồ dùng được cấp phát trong dạy học; tăng cường làm và sưu tầm các đồ dùng dạy học đơn giản, có sẵn ở địa phương. Tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức dạy học phát huy tính tích cực của HS. Không giải nghĩa từ bằng duy danh định nghĩa, từ điển mà nên giải nghĩa từ bằng các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc đưa các từ vào trong văn cảnh cụ thể để học sinh hiểu được nghĩa của từ.

b. Tập đọc

Kết hợp nhiều hình thức, biện pháp tổ chức dạy đọc thích hợp để huy động được nhiều HS đọc. Một trong những hình thức tối ưu đó là chia nhóm, đọc nối tiếp. Thực hiện quy trình dạy tập đọc linh hoạt phù hợp với từng thể loại văn bản và từng giai đoạn học tập của HS. Tăng thời lượng dạy học Tập đọc (tăng số tiết/bài cụ thể).

c. Kể chuyện

GV chú ý rèn luyện giọng kể của mình, làm cho HS hứng thú khi nghe kể chuyện, coi trọng các thủ pháp mở đầu câu chuyện, thêm tình tiết cho văn bản truyện. Sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học thích hợp: làm mẫu, dẫn dắt, gợi mở bằng câu hỏi hoặc tranh ảnh nhằm khích lệ HS mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động rèn kĩ năng nói của mình. Hướng dẫn HS kể bằng lời của mình, không đọc thuộc lòng nguyên xi câu chuyện. Tổ chức tốt các hình thức luyện tập, gây hứng thú đối với HS (phân vai, hoạt cảnh, đóng kịch...); chú ý tạo mọi cơ hội cho HS được thực hiện luyện tập kể chuyện trên lớp, trong nhóm, tổ hoặc theo cặp.

d. Tập viết

GV viết chữ mẫu đúng và đẹp cho HS quan sát. Dạy HS viết đúng các nét chữ cơ bản, các chữ có nét cơ bản giống nhau; dạy HS nắm vững độ cao các chữ; hướng dẫn HS cụ thể về các yêu cầu kĩ thuật viết từng nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ li để hình thành nên một chữ cái, rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu. Đối với HS DTTS, GV cần viết lại chữ mẫu nhiều lần để HS bắt chước viết theo; rèn tư thế ngồi viết đúng cho HS.

đ. Chính tả

GV chuẩn bị và hướng dẫn HS chuẩn bị tốt các đồ dùng viết bài chính tả (vở, bút, bảng lớp, bảng phụ). Chú ý cách đọc: đọc to, rõ ràng, điều chỉnh tốc độ đọc cho phù hợp với trình độ HS. Có thể thay đổi bài tập chính tả nhằm khắc phục lỗi phổ biến của HS trong lớp. Thường xuyên chữa bài, thống kê lỗi và sửa lỗi cho HS, đồng thời hướng dẫn HS cách kiểm tra bài, soát và chữa lỗi cho nhau.

2.2.2. Tích hợp nội dung tăng cường TV trong dạy học các môn học và hoạt động GD

 Môn Hát - nhạc: dạy nghe, dạy nói (qua hát), tăng vốn từ (qua lời bài hát), dạy đọc, viết lời bài hát, cảm thụ qua giai điệu và lời ca. Môn Mĩ thuật: Tăng vốn từ, tập diễn đạt (nhận xét tranh). Môn Thể dục: Tập đếm (điểm danh), tăng vốn từ (qua các trò chơi).  Môn Toán: nghe hiểu, đọc hiểu (bài toán có lời văn), tập diễn đạt (chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu) qua câu lời giải, tăng vốn từ. Môn Tự nhiên và Xã hội: Tận dụng các mô hình, tranh ảnh, vật thật để cung cấp vốn từ, mẫu câu. Tăng cường thực hành học nói, luyện nói, luyện  kĩ năng diễn đạt (theo mẫu câu, theo tình huống giao tiếp, qua trao đổi, thảo luận nhóm, trong các trò chơi học tập). Môn Đạo đức: Rèn luyện khả năng nghe, nói, hiểu, diễn đạt, vốn từ (tự giới thiệu, chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, đề nghị, thảo luận, báo cáo, nhận xét, …).

2.2.3. Vận dụng các phương pháp dạy học TV với tư cách dạy học ngôn ngữ thứ hai

Với HS DTTS, đa số các em vốn TV có rất ít bởi vì trước khi đến trường các em ít được làm quen với TV; giao tiếp với bố mẹ, cộng đồng chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, trẻ đến lớp trước tiên phải học nói, học giao tiếp sau đó mới học đến tập đọc, tập viết. Việc dạy và học TVđối với các em có thể diễn ra mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng.

2.2.4.Tạo môi trường học TV

Tạo môi trường học TVtrong nhà trường: tạo cảnh quan TVtrong và ngoài lớp học: không gian lớp học (trang trí, trưng bày, …), không gian trường học (khẩu hiệu, bản tin, …). Tạo cơ hội thực hiện các hoạt động giao tiếp TV(trong giờ học và các hoạt động tập thể, trò chơi, văn nghệ, ...). Tạo môi trường TV ở gia đình: tạo góc học tập (chú ý trang trí). Kiểm tra, hỏi han, trao đổi bằng TV. Nghe radio, xem tivi, đọc truyện tranh, sách báo và trao đổi. Tạo môi trường TVtrong cộng đồng: vận động cộng đồng giao tiếp đơn giản với HS bằng TV(chào, hỏi, …). Mở chuyên mục phát thanh dành cho thiếu nhi (thông tin mới, nêu gương tốt, hát, kể chuyện, đọc thơ, …). Tổ chức lễ hội, văn nghệ thể thao, các trò chơi.

3. Lời kết

Tăng cường TVcho HS DTTS là việc làm thiết thực để nâng cao chất lượng GD nói chung và chất lượng HS vùng DTTS nói riêng. Đây là việc làm cần tới sự bền bỉ, sự nỗ lực to lớn của ngành GD và đào tạo, sự cống hiến, hi sinh lớn lao của các thầy cô giáo cùng với sự tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của các cấp chính quyền địa phương trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội, chính sách GD cho miền núi, vùng cao, vùng khó khăn, vùng DTTS. Có những chính sách cần tiếp tục củng cố, phát huy, có những chính sách cần phải bổ sung, điều chỉnh và có những chính sách mới cần phải xây dựng./.

 

 

 

 

 

File đính kèm: