linh tây tower

Giáo dục Thanh Hóa giai đoạn 1995 đến 2015

Hai mươi năm này trải qua 4 nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (từ khóa VIII đến khóa XI). Nhiệm vụ chiến lược là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc; xây dựng nền tảng để đưa nước ta thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để thực hiện thành công nhiệm vụ, Nghị quyết các Đại hội đều xác định “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam"(10). Muốn vậy “cần đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” (11).

Trên tinh thần đó nhiều nghị quyết, chỉ thị chuyên đề về GD&ĐT đã ra đời. Nghị quyết TW II, khóa VIII (1996) định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000; Chỉ thị 40 (2004) của Ban Bí thư “Về việc xây dưng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”; Chỉ thị 06/CT-TW của Bộ Chính trị về “Tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (2006), Chỉ thị 03/CT-TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (2011); Nghị quyết TW VIII, khóa XI năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhấp quốc tế”. Nhằm quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng, Quốc hội thông qua Luật Giáo dục 2005. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản pháp quy là cơ sở pháp lý để thực hiện.

Ở Thanh Hóa 4 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh (từ khóa XIV đến khóa XVII) với GD&ĐT trong các nghị quyết đều yêu cầu quy mô phát triển hợp lý, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng các ngành học, bậc học, nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân tài, tăng nhanh nguồn nhân lực được đào tạo, nhất là nhân lực trình độ cao. UBND tỉnh, chính quyền các cấp rất chú ý quan tâm tháo gỡ những khó khăn để sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh ta ngày một phát triển.

1. Về hệ thống, quy mô, mạng lưới trường học

Sau 15 năm đến 2010, Thanh Hóa đã hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân và cơ bản đầy đủ các loại hình cơ sở giáo dục với một mạng lưới trường lớp phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh. Bình quân mỗi cấp xã, phường có ít nhất 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học (TH), 1 trường THCS, 1 trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ). Mỗi cấp huyện từ 1 đến 7 trường THPT, 1 trung tâm GDTX, 1 TTGDTX tỉnh, 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp tỉnh (TTKTTH-HN). Có 3 trường chuyên biệt: 11 trường THCS Dân tộc nội trú (DTNT) ở 11 huyện miền núi; 1 trường THPT chuyên, 1 trường THPTDTNT tỉnh, 1 trường dự bị ĐH. Giáo dục nghề nghiệp (GDNN): 19 trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN); 1 trường chính trị; 87 cơ sở dạy nghề (cao đẳng, trung cấp, trung tâm, lớp dạy nghề) gần 100 nghề, chuyên ngành đào tạo. Giáo dục đại học: 2 trường ĐH, 3 trường CĐ. Ngoài loại hình công lập, từ 1989 còn tồn tại loại hình bán công, dân lập, tư thục. GDMN 75%, THPT 25%, GDNN khoảng gần 40% ngoài công lập. Tổng số trường học: 1994/1995 - 1762 trường, khoảng 750 ngàn HSSV; đến năm 2015 có sự điều chỉnh về quy mô, tính chất. Phát triển mở rộng - thành lập thêm một số trường THCS bán trú vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trường THPTDTNT số 2 Ngọc Lặc, 1 trường THPT ở Thường Xuân, 3 trường THCS và THPT ở Nghi Sơn (Tĩnh Gia), Quan Hóa, Như Thanh, Phân hiệu Đại học Y Hà Nội. Điều chỉnh loại hình để phù hợp thực tiễn giáo dục - loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú, trường TH và THCS; THCS và THPT. Nâng cấp hệ đào tạo - trung cấp lên cao đẳng (CĐ Kinh tế - Kỹ thuật công thương, CĐ nghề Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, CĐ Nông Lâm); cao đẳng lên đại học (Đại học Văn hóa - Thể thao và Du lịch) và trình độ đào tạo - 13 chuyên ngành thạc sĩ, 2 chuyên ngành tiến sĩ ở ĐH Hồng Đức. Đặc biệt, đã chuyển đổi 24 trường THPT bán công và 524 trường mầm non bán công sang công lập, trên 8.000 giáo viên mầm non được vào biên chế. Điều này đã tạo sức sống mạnh mẽ cho hệ bán công THPT, nhất là ngành học mầm non.

Tựu trung lại, đến năm học 2014-2015 toàn tỉnh có 2.172 trường và khoảng gần 90 cơ sở dạy nghề với gần 760 ngàn HSSV. Trong đó, mầm non 661 trường và nhiều trung tâm, lớp (đến bản miền núi); tiểu học 708 trường  và nhiều điểm trường, THCS: 637 trường, Trường TH và THCS 12 trường, THPT 101 trường (7 trường tư thục); THCS và THPT 06 trường (01 trường tư thục); 1 GDTX-DN cấp tỉnh, 11 TTGDTX và 16 TTGDTX-DN cấp huyện; 1 TTKHTH-HN tỉnh; 737 TTHTCĐ; hơn 100 trường, cơ sở thuộc giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học với hàng trăm nghề, chuyên ngành đào tạo.

Như vậy có thể nói về cơ bản GD&ĐT Thanh Hóa đã hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân với quy mô tương đối phù hợp, mạng lưới trường lớp nhìn chung hợp lý; đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn dân lực, bồi dưỡng nhân tài và nhu cầu học tập của người dân, con em nhân dân. Tuy nhiên vẫn thiếu loại trường năng khiếu; trường lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật.Còn nhiều trường TH, THCS quy mô nhỏ, lẻ khó đầu tư CSVC, nâng cao chất lượng do số học sinh giảm dần nên quy mô trường lớp và mạng lưới cần tiếp tục quy hoạch để phù hợp với thực tế và sử dụng cơ sở vật chất, chỉ đạo dạy học tốt hơn.

2. Về chất lượng giáo dục - đào tạo

Giáo dục Mầm non: 1995 - 2005 tỷ lệ huy động trẻ đến trường từ 30% đến 40%; 2014 - 2015 là 60%. Trong đó mẫu giáo 5 tuổi từ 85% đến 90% tăng lên 99,8% so với số cháu trong độ tuổi; được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi tại thời điểm tháng 4 năm 2015. Đến năm học 2014- 2015 có 282 trường đạt Chuẩn quốc gia (42,3%) tăng 219 trường, gấp gần 3,5 lần so với 10 năm trước. Nhiều trường là đơn vị tiêu biểu, Trường Mầm non Tân Sơn (TP Thanh Hóa) được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới.

Giáo dục phổ thông, do biến động dân số số lượng HS giảm đáng kể. Bậc tiểu học, 10 năm đầu bình quân 450 nghìn HS, 10 năm sau chỉ còn 290 nghìn HS, sĩ số bình quân/lớp giảm. Từ hơn 60 học sinh xuống hơn 40 HS/lớp, năm học 2014/2015 là hơn 30 HS/lớp. Trường đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều. Năm 2015 đã có 521 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, 100 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa. Số trường, lớp và HS được học 2 buổi/ngày tăng nhanh. Đây là những điều kiện then chốt nâng cao chất lượng. Về hoạt động giáo dục: nội dung, phương pháp đổi mới kịp thời theo xu hướng tiên tiến, toàn diện. Bậc trung học (phổ thông và bổ túc): Tốt nghiệp THCS hàng năm 98%; tốt nghiệp THPT, bổ túc THPT 10 năm đầu bình quân 85%; từ 2010 trở đi 96%. Kỳ thi THPT quốc gia năm 2015 vừa xét tốt nghiệp, vừa xét tuyển ĐH, CĐ tỷ lệ tốt nghiệp 91,84%. Hàng năm khoảng 18 ngàn HS dự thi HSG cấp Tỉnh các môn vãn hoá. Tính chung cả 2 hệ 2 cấp, bình quân đạt giải chiếm 53% số dự thi. Kết quả tuyển sinh ĐH, CĐ hàng năm HS Thanh Hóa đều thuộc tốp dẫn đầu cả nước. Mỗi năm bình quân 25 nghìn HS trúng tuyển. Năm 2009, số HS đạt 27 điểm/3 môn xếp thứ 2 sau TP Hà Nội. Năm 2014, 48% HS trúng tuyển, 20 học sinh đậu thủ khoa Đại học, xếp thứ 2 sau TP Hồ Chí Minh. Năm 2015 có 21 HS được điểm 10 ở 3 môn toán, địa lý, hóa học; 126 học sinh đạt 27 điểm trở lên (3 môn thi); 8.823 HS đạt 21 điểm trở lên chiếm khoảng 26% dự thi. Về chất lượng mũi nhọn, bồi dưỡng nhân tài, kết quả thi HSG quốc gia, HSG các trường THPTDTNT toàn quốc luôn khẳng định ở vị trí tốp đầu cả nước. Từ 1995 đến 2015, 30 HS đạt thành tích ở các kỳ thi khu vực và quốc tế với 4 HCV, 10 HCB, 11 HCĐ, 5 bằng khen và giải khác. Trong đó có thời gian 5 năm liền (1998 - 2002); 6 năm liền (2008 - 2013) đạt giải. Không chỉ có chất lượng văn hóa ngày càng nâng cao. Chất lượng các mặt hoạt động giáo dục khác cũng đạt thành tích đáng kể. Cuộc thi Viết thư UPU lần 44 (2015) do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức, Thanh Hóa xếp giải Nhất toàn đoàn, trong đó có HS Trương Hải Nam, lớp 8 Trường THCS Lê Hữu Lập (Hậu Lộc) giải Nhất duy nhất toàn quốc và đạt giải khuyến khích Quốc tế. Ngoài ra 10 năm liền phối hợp với Đài PTTH tỉnh tổ chức sân chơi “Âm vang xứ Thanh” cho học sinh THPT, là sân chơi trí tuệ, thúc đẩy phòng trào thi đua dạy tốt - học tốt trong các nhà trường. Cơ sở để giáo dục bậc trung học triển khai đạt hiệu quả cao trong 20 năm lại đây chính là có một hệ thống trường học ngày càng chuẩn hóa (254 trường THCS; 16 trường THPT); một đội ngũ CBGV đạt chuẩn, trên chuẩn tỷ lệ cao với hàng ngàn GVG các cấp. Ngành học phổ thông giai đoạn này thực sự vừa xây dựng vừa hoàn thiện vì thế chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng vững chắc.

Giáo dục dân trí đến giai đoạn này có sự chuyển biến đáng kể. Công tác XMC vẫn tiếp tục bởi còn khoảng 2% số người trong độ tuổi (15 - 60 tuổi) mù chữ. Nhiệm vụ gian nan nhất là XMC cho đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng đặc biệt khó khăn và chống tái mù chữ (CMC). Nhưng quan trọng, không chỉ yêu cầu “biết đọc, biết viết” mà tiêu chuẩn “không mù chữ” là phải có “trình độ hết tiểu học”. Năm 1995, 18/25 đơn vị cấp huyện - 568 cấp xã đạt chuẩn quốc gia PCGDTH - CMC. Hết năm 1997 đã có 25/27 huyện - 608/630 xã đạt chuẩn, được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn  PCGDTH - CMC. Tháng 12/2004, công nhận hoàn thành PCGDTH đúng độ tuổi mức độ 1. Từ 2015 giữ vững kết quả, tiếp tục triển khai PCGDTH mức độ 2, 3. Năm 2006, được công nhận phổ cập THCS với 100% (637 xã); 27/27 huyện đạt phổ cập THCS.

Giáo dục thường xuyên với 27 TTGDTX đã tích cực chuẩn hóa trình độ văn hóa THPT cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã, tạo điều kiện để họ học CĐ, ĐH. Tham gia XMC, PCGDTH, THCS; bồi dưỡng kiến thức, kỹ thuật cho nhân dân. 737 TTHTCĐ có mặt ở cấp xã thu hút hơn 20 triệu lượt người học. Nội dung chuyển tải từ giáo dục chính trị, chính sách xã hội đến phổ biến, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế, tiếp cận thị trường, dạy nghề gắn với xuất khẩu lao động, tạo việc làm đã góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế.

 

 

Lớp học tình thương tại Hoằng Hóa hè năm 2007

Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học 20 năm nay dần ổn định, phát triển theo định hướng kết hợp công tư, mở rộng quy mô, đa dạng loại hình, đổi mới phương pháp, phương thức, tăng cường năng lực, trình độ đào tạo; thiết lập, chuyển dịch hợp lý cơ sở đào tạo, hài hòa cơ cấu đào tạo. Do vậy nguồn nhân lực qua đào tạo cũng như chất lượng được nâng cao. Năm 2015, 100% CBVC cấp huyện, cấp tỉnh đạt chuẩn; 90% cán bộ cấp xã đạt chuẩn quy định; 55% lao động qua đào tạo (miền núi hơn 30%) với các trình độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ khác nhau (2005 - 27%; 2010 - 40%). Quan trọng hơn cả là sự mất cân đối giữa lao động chân tay, lao động trí óc đang dần được điều chỉnh một cách khoa học.

Chất lượng giáo dục giai đoạn 1995 - 2015 có một bước tiến đáng kể từ nền móng dân trí đến tháp cao tri thức, kỹ thuật nghề nghiệp.

3. Về chuẩn hóa đội ngũ - cơ sở giáo dục; xây dựng cơ sở vật chất; xã hội hóa giáo dục và các phong trào trong giáo dục đào tạo

Trình độ GV đạt chuẩn - Năm học 1994 - 1995: MN 99%; TH trên 80%; THCS; 90%; THPT 98%; Chỉ có số ít đạt trên chuẩn. Năm học 2014 - 2015: MN 99,8% trong đó 58,3% trên chuẩn; TH 99,9% trong đó 79,3% trên chuẩn; THCS 98,8% trong đó 35,94% trên chuẩn; THPT 99% trong đó 8,67% trên chuẩn. CBQL cơ bản 100% đạt chuẩn trở lên. Đội ngũ này luôn được bồi dưỡng, tập huấn, tham gia hội thảo khoa học, tham quan học tập.

Cơ sở giáo dục đạt chuẩn: nhiệm vụ xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia mầm non và phổ thông mới chỉ dấy lên mạnh mẽ trong khoảng 15 năm trở lại đây nhưng đã có nhiều nỗ lực với sự đầu tư khá lớn từ ngành chủ quản, địa phương và nhà trường. Kết thúc năm học 2008 - 2009 có 582 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó: mầm non có 111 trường, tiểu học có 382 trường, THCS 81 trường, THPT 8 trường. Ngay khi ấy mặc dù là tỉnh khó khăn, số lượng trường chuẩn mầm non và tiểu học của Thanh Hoá đã dẫn đầu 63 tỉnh, TP trong cả nước. Năm học 2014 - 2015, tổng số trường đạt chuẩn là 1173 đạt tỷ lệ 51,1%. GDMN có 282 trường; TH 521 trường mức độ 1, 100 trường mức độ 2; THCS 254 trường; THPT 16 trường. Tuy tốc độ tăng nhanh nhưng việc xây dựng gần 1/2 số trường còn lại thật sự gian nan. Việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia góp phần không nhỏ thay đổi cảnh quan trường học, nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy nhanh tiến xây dựng trường chuẩn quốc gia là việc tăng cường đầu tư CSVC, trang thiết bị (TTB) cho giáo dục. Trường học, phòng học kiên cố, cao tầng được quan tâm đẩy mạnh: năm 2005 - 65%; 2009 - 74,3%; 2014 - 86%, TTB theo hướng chuẩn hóa - hiện đại, thư viện đạt chuẩn khoảng 70%. CSVCTTB của các trường TCCN, CĐ, ĐH được đầu tư lớn, hầu hết đều kiên cố, cao tầng.

Hai mươi năm qua, nhất là 10 năm lại đây phong trào xã hội hóa giáo dục (XHHGD) của Thanh Hóa được đẩy mạnh, có chuyển biến lớn về chất lượng. Có 3 thay đổi căn bản của XHHGD giai đoạn này. Một là làm thay đổi nhận thức tư tưởng của xã hội về XHHGD. XHH không phải chỉ nhằm tăng kinh phí đầu tư, đóng góp cho GD&ĐT không phải làm từ thiện. Hai là nội dung XHHGD ngoài tăng nguồn lực tài chính, mục đích chủ yếu nhằm góp phần phát triển giáo dục, nâng cao chất lương, hiệu quả giáo dục toàn diện; khuyến học, khuyến tài; mở rộng phong trào học tập thường xuyên học tập suốt đời, thực hiện giáo dục cho mọi người hướng tới xây dựng một xã hội học tập. Ba là thành lập Hội Khuyến học (tháng 12/1999) và TTHTCĐ hoạt động hiệu quả cao. Hội Khuyến học (HKH) đã cố gắng cao nhất không để học sinh bỏ học giữa chừng và vận động học sinh đã bỏ học trở lại lớp, giúp đỡ bằng tiền hoặc hiện vật. HS nghèo, gặp khó khăn được cấp học bổng, trợ giúp cả vật chất lẫn tinh thần. Từ 2000 đến 2015 trợ giúp khoảng 450.000 lượt HSSV số tiền gần 300 tỷ đồng. Khen thưởng gần 3,6 triệu lượt HSSV gần 350 tỷ đồng; gần 15 vạn lượt giáo viên được khen thưởng, số tiền gần 75 tỷ đồng; vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ hơn 350 tỷ đồng, hiến tặng hàng chục ha đất xây trường, đầu tư CSVCTTB, nhà ở giáo viên. XHH đã tác động tích cực vào việc tổ chức các hoạt động cho HS ở cộng đồng; giáo dục, ngăn chặn tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật trong HS. Trẻ em thất học, lang thang kiếm sống, mù chữ được thu hút vào các lớp học tình thương. Thành công lớn qua phong trào XHH mà HKH đi đầu xây dựng được nhiều loại quỹ khuyến học với sự tham gia, ủng hộ của doanh nghiệp, doanh nhân, tổ chức, cán bộ, người dân trong, ngoài tỉnh, nước ngoài. Đến 2015 tổng quỹ cả tỉnh lên tới hơn 1.000 tỷ đồng, nhiều nhất cả nước.

Nhìn lại chặng đường 1995 - 2015 dù vẫn nhiều khó khăn, thách thức nhưng là giai đoạn hoạt động sôi nổi, giáo dục Thanh Hóa gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, vì có sự tích lũy và kế thừa của 50 năm trước và sự chuyển mình của đất nước trên con đường đổi mới thành công trong tiến trình 70 năm xây dựng phát triển.

*

*       *

Bảy mươi năm (1945 - 2015), tổng kết lại sự nghiệp GD&ĐT Thanh Hóa có 4 thế mạnh. Thứ nhất, quy mô giáo dục hoàn thiện đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của học sinh và nhân dân. Thứ hai, chất lượng giáo dục toàn diện đại trà hay mũi nhọn đều xếp vào loại thứ hạng cao trong toàn quốc. Thứ ba, một đội ngũ CBGV vững mạnh,  gần 100% đạt chuẩn, trên chuẩn và một hệ thống trường học đạt chuẩn không nhỏ, gần 86% được kiên cố hóa, cao tầng hóa với trang thiết bị giáo dục tương đối đầy đủ, đồng bộ. Thứ 4, trên các chỉ số cơ bản, sự chênh lệch mặt bằng ở các lĩnh vực GD&ĐT giữa miền núi - miền xuôi; đô thị - nông thôn đã thu hẹp khoảng cách. Vì những thành tựu của mình, ngành GD&ĐT Thanh Hóa đã được nhận những phần thưởng cao quý, nhiều tập thể được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới, Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, cờ thi đua đơn vị xuắt sắc của Chính phủ, của Bộ GD&ĐT và của UBND tỉnh.

Có được những thành công của GD&ĐT Thanh Hóa có thể khẳng định 3 nguyên nhân chính. Trước hết, do tầm nhìn, sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng, cấp ủy Đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương. Sự lãnh đạo ấy thể hiện bằng nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kế sách,... lâu dài và cho từng thời kỳ, giai đoạn. Thứ hai, GD&ĐT Thanh Hóa có một đội ngũ CBGV giàu năng lực, nhiệt tình cống hiến. Từ lãnh đạo ngành đến lãnh đạo cơ sở, chuyên viên chỉ đạo; từ  nhà giáo Anh hùng lao động, Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo ưu tú đến đông đảo nhà giáo ở các thôn xóm nghèo, làng bản xa xôi. Như người chiến sĩ cộng sản trung kiên Trịnh Hữu Thường (1910 - 2004) 2 lần làm Trưởng ty, về bằng cấp ông chỉ tương đương trung học nhưng được tất cả CBGV mến phục vì nhân cách cao cả, tấm lòng chân thành. Giám đốc, NGƯT Nguyễn Đình Bưu luôn ưu tư trăn trở và sáng tạo đã chèo chống con thuyền giáo dục vững vàng thời kỳ đầu đổi mới nhiều thử thách (1986 - 1989). NGƯT Đào Viết Huệ, một trong những người xây nền móng và thúc đẩy công tác bồi dưỡng HSG quốc gia lên tầm cao, cũng là người mở đầu đưa tin học vào giáo dục Thanh Hóa. Các Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Huê, Nguyễn Xuân Trạc, NGND Cao Thị Diệu Hoàng, NGƯT Nguyễn Thị Thông,... hay thầy giáo Hà Thanh Sơn, Trường tiểu học Sơn Thủy (Quan Sơn) 15 năm “cắm bản” Mùa Xuân, những thầy, cô giáo trẻ điểm trường Pù Quăn, Cá Nọi (Trường tiểu học Pù Nhi, Mường Lát) mang con chữ đến cho học trò nhỏ Hmông, Dao,...dù công tác ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, thuộc những thế hệ khác nhau nhưng đều đại diện cho nhà giáo ngày ngày tận tâm bám trường, bám lớp, tận tụy với học trò. Chính là lực lượng “góp từng nửa bước để đi được ngàn dặm, như những dòng suối nhỏ đổ vào thành sông biển” làm nên sự nghiệp. Lịch sử Giáo dục Thanh Hóa mãi mãi ghi nhớ công lao của những con người ấy. Thứ ba là có sự chung tay góp sức của nhân dân và xã hội. Một đất nước xuất phát  điểm phong kiến lại bị hơn 80 năm đô hộ, 30 năm chiến tranh, 20 năm các thế lực thù địch phong tỏa, mới 20 năm lại đây trên đường đổi mới, phát triển, nền GD&ĐT nếu không có sự chung sức của toàn dân, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, doanh nhân, không có tinh thần hiếu học của mỗi một gia đình, của các thế hệ HS thì không thể  lớn mạnh được.

 Hiện tại với nhiệm vụ chung “Tăng cường xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công ngiệp theo hướng hiện đại”(14) và nhiệm vụ  phấn đấu để đến năm 2020 tỉnh ta trở thành tỉnh khá của cả nước, đến năm 2030 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại như “Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII” xác định, GD&ĐT Thanh Hóa  đang đứng trước thời kỳ mới - thuận lợi, thời cơ lớn đan xen với khó khăn, thách thức lớn mà trọng trách được giao không nhỏ. Cụ thể hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ sau:

1- Tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.

a) Tăng cường xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia nâng dần về mức độ qua mỗi năm học, thời kỳ.

b) Nâng cao chất lượng đội ngũ CBGV  không chỉ là chuẩn hóa theo bằng cấp mà vừa chăm lo nâng cao đời sống, nâng tầm vị trí người thầy vừa hiện đại hóa, đưa họ tham gia hội nhập quốc tế cùng với trau dồi phẩm chất chính tri - đạo đức, tư cách, phong cách; đủ về số lượng, mạnh chất lượng, giỏi phương pháp, đảm bảo cơ cấu môn học. Đây chính là nguồn lực làm nên sự biến đổi then chốt, lớn lao của GD&ĐT.    

c) Đổi mới căn bản toàn diện các ngành học, cấp học, hoàn thành tốt mục tiêu đến năm 2020 mà Chiến lược Giáo dục 2011 - 2020 đề ra. Áp dụng tốt mô hình giáo dục, phương pháp giáo dục mới. Thực thi hiệu quả đổi mới nội dung, phương pháp các môn học.

 d) Thúc đẩy các phong trào thi đua về chuyên môn, nghiệp vụ, giáo dục đạo đức, chính trị, hoạt động chất lượng, hiệu quả. 

2- Phổ cập GDTH đúng độ tuổi, PCTHCS bền vững và ở các mức độ cao hơn để mặt bằng dân trí nâng lên trình độ THCS; triển khai vững chắc PCTHPT.

3- Hoàn chỉnh, hoàn thiện cơ cấu, quy mô: sắp xếp lại mạng lưới trường phổ thông, các ngành nghề của GDNN, GDĐH; quan tâm GDMN, củng cố nâng cao GDTX. Một mặt giải quyết kịp thời, hiệu quả bất cập đang tồn tại về quy mô mạng lưới trường, lớp, mặt khác phù hợp xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu trước mắt và lâu dài của quê hương, đất nước. 

 4. Chăm lo phát triển nguồn nhân lực qua đào tạo, có chất lượng cao.

a) Phân luồng hợp lý sau THCS và sau THPT vào giáo dục nghề, TCCN, CĐ, ĐH. Đồng thời đào tao đạt chuẩn kỹ năng chung (ngoại ngữ, tin học, giao tiếp, kỷ luật trong lao động).

b) Tăng cường hơn nữa chất lượng giáo dục chuyên biệt (trường chuyên, trường chất lượng cao, trường năng khiếu), công tác bồi dưỡng HSG quốc gia, quốc tế.

 

5- Rút ngắn hơn nữa khoảng cách chất lượng giữa các vùng miền: mở rộng, nâng cao chất lượng các trường DTNT, trường bán trú vùng khó khăn. Chú trọng đầu tư CSVCTB; tạo điều kiện tốt hơn để CBGV, HS các trường ở vùng còn chậm phát triển được tiếp cận mô hình giáo dục, phương pháp giáo dục mới.

File đính kèm: