linh tây tower

Giáo dục Thanh Hóa Thời kỳ 1986 - 1995

Đây là thời kỳ giáo dục cả nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng gặp nhiều khó khăn thách thức, nền kinh tế chưa ra khỏi khủng hoảng, trong đó có sự nghiệp giáo dục Thanh Hóa.

a) Những năm từ 1986 đến 1990

GD&ĐT được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) chỉ rõ: phát triển có kế hoạch hệ thống, bố trí hợp lý cơ cấu giáo dục, bảo đảm chất lượng và hiệu quả. Mục tiêu của từng loại hình trường học phải cụ thể. Trên tinh thần này Chính phủ (lúc ấy là Hội đồng Bộ trưởng) xác định “Giáo dục là một bộ phận quan trọng của kinh tế xã hội, có vị trí hàng đầu trong chiến lược con người phục vụ chiến lược kinh tế xã hội và quốc phòng, do đó phải đầu tư cho giáo dục như đầu tư cơ bản cho sản xuất”. Bộ Giáo dục (từ tháng 3/1990 là Bộ GD&ĐT) ra Chỉ thị về Chương trình phát triển giáo dục 1987 - 1990; ban hành các quy định về mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung, phương pháp, tiêu chuẩn CSVC và quản lý nhà trường của trường PTCS, mẫu giáo, PTTH. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII định vị giáo dục Thanh Hóa: đặt đúng vị trí quan trọng của giáo dục trong chiến lược xây dựng con người mới XHCN. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết về CCGD, chú trọng nâng cao chất lượng toàn diện các ngành học, cấp học nhất là PTCS; lấy GDPT làm cơ bản. Mở rộng loại hình trường VHVL, đưa hệ thống này thành một lực lượng sản xuất đem lại hiệu quả thiết thực. Đẩy mạnh hơn giáo dục hướng nghiệp và LĐSX trong nhà trường. Chú trọng ĐTBD CBGV về cả năng lực và phẩm chất, chấn chỉnh nề nếp dạy - học.

Khoảng thời gian này có nhiều thay đổi về bộ máy quản lý. Sát nhập Ủy ban bảo vệ bà mẹ trẻ em vào Sở Giáo dục (10/1987) thành lập phòng Mầm non (nay là GDMN). Năm 1988 sát nhập Ban GDCN trực thuộc UBND tỉnh vào Sở Giáo dục (ban đầu thuộc phòng ĐTBD, nay là phòng GDCN). Tháng 3/1990 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp sát nhập vào Bộ Giáo dục thành Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sở Giáo dục trong năm này cũng đổi thành Sở Giáo dục và Đào tạo. Đưa 1.220 GV cấp II xuống dạy cấp I. Điều phối lại GV PTTH, chuyển 333 người tăng cường cho cấp II. Mặt khác đường lối đổi mới khuyến khích cá nhân làm kinh tế trong khi đời sống hết sức thiếu thốn khiến một bộ phận CBCNV của ngành coi công tác giáo dục là tay trái.HS bỏ học nhiều để làm “ruộng khoán”, buôn bán, làm thuê,... tháo gỡ khó khăn cho gia đình. Giáo dục lúc này ít nhiều bị “xã hội” coi nhẹ. Những điểm nêu trên là mục tiêu, nhiệm vụ cũng là tác nhân, điều kiện tạo nên diện mạo GD&ĐT Thanh Hóa 1986 - 1990.

Về mặt hoạt động và kết quả, ngành học Mầm non, thí điểm hình thức nhà trẻ có nuôi có dạy. Thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm với sự đóng góp của cha mẹ và quỹ phúc lợi cơ quan, đơn vị. Trong thời kỳ này, số nhà trẻ, nhóm trẻ giảm đáng kể. Năm 1990 so với 1988 giảm 1/3 số lượng. Tỷ lệ so với độ tuổi giảm 1/2. Đội ngũ GV cả 2 cấp đều giảm. Cấp I tổng kết “thay sách” giai đoạn 1, triển khai giai đoạn 2. Cấp II, tiếp tục “thay sách” (1985 - 1989) kết hợp điều chỉnh CCGD (từ 1989). Có 3 nội dung lớn: trung tâm là tăng chất lượng cấp I, “Cấp I là nền, lớp 1 là móng”; kết hợp PCCI và XMC ở vùng khó khăn áp dụng chương trình 100 tuần, 120 tuần / cả cấp; chuyển đổi hệ thống II (25 - 30% HS lớp 8 lên lớp 10 PTTH, còn lại lên lớp 9, lớp cuối cấp II). Năm học 1989 - 1990, thay sách lớp 10 PTTH. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học thực hiện phương châm “nâng chất lượng cả 2 phía, từ 2 đầu”. GV - HS; HS yếu kém - HS khá giỏi. Chính thức vận hành hệ thống trường, khối, lớp chuyên cấp II, PTTH ở tỉnh và các huyện, thị; tập huấn đội tuyển thi HSG quốc gia, quốc tế. Hệ thống trường chuyên, lớp chọn nhanh chóng phát triển. Kết quả HSG là thành tích đáng tự hào. Năm học 1985 – 1986 đạt 3 giải quốc gia, 4 năm học tiếp theo bình quân mỗi năm học 20 giải. 2 HS được huy chương môn Toán, 1 HS nhận bằng khen môn Vật lý Olimpic quốc tế. Tổ chức nghiệm thu chất lượng HS, giải quyết hiện tượng HS “ngồi nhầm chỗ”. Công tác BDGV: bồi dưỡng thay sách đạt 100% kế hoạch. Định kỳ thi GVG các cấp thu hút đông đảo GV tham gia nhưng đạt chuẩn còn thấp. Tổ chức các hội thảo chuyên môn. Như hội thảo toàn tỉnh “Lớp 1 cấp I”, hội thảo toàn quốc “Dạy học văn trong sự đổi mới” giữa lúc nền văn học nhiều biến động, nhiều ý kiến trái chiều về dạy học bộ môn được đánh giá cao. Tham gia thực nghiệm chương trình “Công nghệ giáo dục” ở cấp I. Đánh giá HS cấp I (kể cả thi tốt nghiệp) bằng “Phiếu kiểm tra chất lượng”. Chính là thể hiện sự táo bạo, sáng tạo, “đi đầu” của GDPT Thanh Hóa. Ngoài chương trình chính khóa còn đưa giáo dục pháp luật, tin học vào cấp II, III; thí điểm dạy nhạc, họa cho các lớp cấp I, lớp đầu cấp II. Tuy nhiên chất lượng văn hóa vẫn thấp. Qua khảo sát 2 môn văn, toán của BGD (năm học 1990 - 1991) ở cả 3 cấp, HS điểm khá giỏi ít, yếu kém nhiều, riêng HS lớp 10 không có khá giỏi chỉ 34% điểm trung bình. LĐSX, hướng nghiệp - dạy nghề vẫn được thúc đấy. Điều đáng nói về mặt quản lý là ngành đã tham mưu cho UBND Tỉnh có nhiều chính sách ưu đãi CBGV, nhất là với GV, giáo dục miền núi. Ngành học BTVH  tập trung XMC. Thành lập ban XMC ở các địa phương. Hợp đồng XMC chủ yếu với với HS phổ thông để vừa tăng vừa có được lực lượng tiện lợi nhất. Tóm lại GD&ĐT chặng đường này dù nhiều cố gắng, đạt thành tích ở một số mặt song công tác phát triển các ngành học và chất lượng đại trà nhìn chung không ổn định, tăng, giảm thất thường.

b) Những năm từ 1991 đến 1995

Thời gian này Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của GD&ĐT. Trong đó đưa ra quan điểm chỉ đạo quan trọng, cơ bản: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, mở rộng quy mô đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, học đi đôi với hành; giáo dục phải gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, phù hợp xu thế tiến bộ của thời đại; đa dạng hóa các loại hình đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục”(8). Quan điểm ấy không những bao quát chặng đường 1991 - 1995 mà còn xuyên suốt quá trình xây dựng, phát triển GD&ĐT đến hiện nay. Từ đây các phong trào toàn Đảng, toàn dân chăm lo sự nghiệp GD&ĐT; phong trào xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học và Luật Chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua năm 1991. Hội đồng Bộ trưởng có các Quyết định về sắp xếp đội ngũ CBCNV, tinh giản biên chế. Bộ GD&ĐT công bố 8 Chương trình mục tiêu. Kinh tế tăng trưởng, văn hóa xã hội và đời sống nhân dân nâng cao. Ở Thanh Hóa, Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII (tháng 4/1991) đặt ra một số yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng đối với GD&ĐT. UBND tỉnh có các Quyết định về mục tiêu, chủ trương, giải pháp phát triển GD&ĐT. Tất cả là nền tảng chính trị, cơ sở pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi để GD&ĐT triển khai hoạt động.

 

Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Nguyễn Thị Tứ thăm lớp học linh hoạt

tại Hậu Lộc tháng 3/1992

Ngành học Mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ vẫn giảm dần sĩ số, nhất là ở nông thôn, miền núi. Trong khi đó bậc học mẫu giáo ổn định, tiếp tục tăng trưởng. Huy động bình quân 86% năm (khoảng 137.000) số cháu trong độ tuổi đến lớp. Giáo dục phát triển toàn diện được chú ý. Số GV chưa qua đào tạo chỉ còn 34%.

Ngành học phổ thông, tồn tại 4 loại cấp: cấp I, cấp II, PTCS, cấp II - III, PTTH nhưng đang tách dần vì số lớp, số HS tăng nhanh và định hình 2 bậc học (Tiểu học, Trung học). Mỗi năm thêm 90 trường; hơn 100 lớp; trên 60 ngàn HS. Ở PTCS, HS dân tộc thiểu số tăng đáng kể (chiếm khoảng 20%), PTTH tăng nhẹ, thất thường. GV tăng bình quân hơn 600. Năm học 1992 - 1993 hoàn thành thay sách CCGD. 1994 - 1995 thí điểm PTTH chuyên ban, trường bán công. Thiết lập hệ thống trường dân tộc nội trú (DTNT). Năm học 1994 - 1995 có đủ 8 trường huyện miền núi. Đầu tư cho trường DTNT tỉnh để đảm nhiệm là trung tâm chất lượng cao THPT của HS dân tộc thiểu số. Trở thành một trong những tỉnh đứng đầu HSG, bình quân trên 70 giải HSG quốc gia/năm; có thêm 4 giải olimpic môn Toán, thứ hạng nâng một bậc (2 giải Nhì). HS Nguyễn Thị Dung vô địch cờ vua thế giới lứa tuổi 12 (1994).

PCGD tiểu học - XMC “tổng công kích” qua 5 năm bằng nhiều giải pháp, biện pháp tích cực, phối kết hợp hiệu quả (với bộ đội biên phòng, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên,...) tăng tiến nhanh chóng, vững chắc. Năm 1991 có 6 huyện, 370 xã; 1995 - 504 xã (2/3 số xã toàn tỉnh), 15/23 huyện lúc bấy giờ được công nhận hoàn thành. Từ năm 1992 bắt đầu tập trung vào miền núi. Cuối kỳ dù chưa huyện nào được công nhận nhưng 3/8 huyện có số xã tỷ lệ đạt từ 70 - 80%.

Năm 1992 hệ thống trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX) ra đời trên cơ sở sát nhập trường BTVH, trung tâm dạy nghề. Ngành học BTVH mang tên mới - Giáo dục thường xuyên (GDTX). Thanh Hóa có 1 TTGDTX cấp tỉnh, 23 TT cấp huyện. XMC có những kết quả khả quan, hàng năm đều vượt chỉ tiêu đề ra. Công tác BDGV, cán bộ quản lý theo chương trình quy định của Bộ GD&ĐT; hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho GV các trường THCN được đẩy mạnh. Mở rộng về quy mô, số lượng bồi dưỡng trên chuẩn. Gần 1000 CBGV theo học tập trung, tại chức; hơn 200 người đã tốt nghiệp, tạo thành nhu cầu của cá nhân, góp phần rất lớn nâng chất lượng đội ngũ.

Giáo dục chuyên nghiệp ngoài 3 trường THCN của các Bộ đóng trên địa bàn, từ 1991 đến 1995 đã thực hiện sát nhập một số trường THCN với nhau và vào trường CĐ. Trung học Nông nghiệp - Trung học Lâm nghiệp thành Trung hoc Nông - Lâm  nghiệp; Trung học Mầm non, Bồi dưỡng cán bộ quản lý GD vào CĐSP; Trung học Thống kê - Kế hoạch và Tài chính - Kế toán vào CĐ Kinh tế - Kỹ thuật. Những trường này đều tuyển sinh đạt chỉ tiêu, hoạt động có chất lượng. Nhiều HS Trường trung học TDTT là nhà vô địch quốc gia nhiều năm như Nguyễn Trung Hoa, Hà Văn Chung (điền kinh), Nguyễn Đình Luyện (bơi lội), Trịnh Thu Hà (bắn súng),...Trường trung học Nông Lâm được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1995). GDCN có quy mô lớn, đa ngành, đa hệ. Tuy điều kiện khó khăn vẫn cố gẵng duy trì, mở rộng ngành nghề phù hợp nhu cầu xã hội. Ban cán sự Đảng GD&ĐT thành lập lại. Chi bộ, tổ đảng trong các trường học được kiện toàn, số đảng viên kết nạp tăng nhanh. Đến 1995 đã có 731 chi bộ, còn lại là tổ đảng, đảng viên chiếm 16,5% tổng số CBCNV.

Công tác kế hoạch - tài chính, chương trình xây dựng CSVC, chống xuống cấp, vận dụng phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm theo định hướng “kiên cố hóa, cao tầng hóa, quy chuẩn hóa” đã đầu tư 53 tỷ 120 triệu đồng xây dựng trường, lớp; thiết bị dạy học. Trong đó nhân dân đóng góp 51, 5%. Từ 1990/1991 đến 1994/1995 toàn tỉnh tăng thêm 544 phòng học, 31 trường học kiên cố; 261 phòng học, 47 trường học cao tầng. Chính sách, chế độ hỗ trợ của tỉnh đối với CBGV, giáo dục miền núi được bổ sung. Kinh phí sự nghiệp giáo dục miền núi giao cho Sở chủ quản. Thời gian này có 3 phong trào nổi bật. Phong trào thi đua “Hai tốt”; cuộc vận động “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”; phong trào “Kiên cố hóa, cao tầng hóa trường học”. Mỗi năm có gần 120 đơn vị tiên tiến cấp tỉnh, hàng vạn người đạt danh hiệu thi đua các cấp.   

Có thể nói từ 1991 đến 1995, GD&ĐT Thanh Hóa với những thành công đáng khích lệ, từng bước đổi mới bền vững. Năm 1991 - duy trì; 1992 - nâng lên; 1993 - tiến bộ rõ nét; 1994 - đẩy mạnh; 1995 - phát triển cả quy mô và chất lượng.

 

Thời kỳ  1986 - 1995 là 10 năm “công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội do Đảng khởi xướng, lãnh đạo thu được những thành tựu quan trọng về mọi mặt, tạo ra nhiều tiền đề cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đai hóa đất nước giai đoạn tiếp theo”(9). GD&ĐT Thanh Hóa trên nền tảng đó vững bước tiến vào chặng đường mới.

File đính kèm: