linh tây tower

Giáo dục Thanh Hóa Thời kỳ 1975 - 1985

Đây là thời kỳ GD&ĐT diễn biến trong bối cảnh Thanh Hóa khắc phục hậu quả chiến tranh, chống đói nghèo lạc hậu, góp phần tìm tòi, khảo nghiệm con đường đổi mới, bảo vệ CNXH qua chủ trương kế sách của 2 nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (IV, V), 4 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh (VIII đến XI). Tinh thần chung là vừa nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện vừa phát triển thích hợp. Trong đó phát triển nhanh mẫu giáo, tăng trưởng cấp I, II, mở rộng cấp III, đẩy mạnh BTVH, tăng cường phổ cập cấp I cho toàn dân, nâng cao tỷ lệ phổ cập cấp II cho cán bộ, thanh thiếu niên. Giáo dục chuyên nghiệp (GDCN) chấn chỉnh kết hợp với mở rộng mạng lưới, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng trình độ trung học quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật cho các cơ sở kinh tế tập thể, quốc doanh; cán bộ nữ và người dân tộc. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt”, xây dựng các quy chế quản lý, hoạt động; bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ CBGV theo hướng chuẩn hóa. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho nhà trường.

 

Ngành học mầm non chỉ số tăng trưởng nhanh nhất là HS. Khối nhà trẻ mỗi năm thu nhận bình quân 65 ngàn cháu, chiếm tỷ 25% số cháu trong độ tuổi. Bậc học mẫu giáo, năm học 1974/1975: 39.976 cháu; 1980/1981: 116.241 cháu; 1984/1985: 117.820. Tỷ lệ đến lớp / tổng số trong độ tuổi lần lượt là 13,84% - 48, 72% - 72,70%. Tỷ lệ cháu 5 tuổi / tổng số cháu tuổi lần lượt là: 8,42% - 61,50% - 75,73%.

Ngành học phổ thông bắt đầu triển khai CCGD lần thứ 3 (1979). GDPT hệ 12 năm gồm bậc học phổ thông cơ sở (PTCS) có 2 cấp (cấp I - 5 năm; cấp II - 4 năm) và bậc học phổ thông trung học (PTTH - 2 năm). Các chỉ số về trường - lớp - GV - HS - tỷ lệ HS/dân số - tỷ lệ HS / trẻ cùng độ tuổi - tỷ lệ HS miền núi / tổng số HS; tỷ lệ HS dân tộc/HS miền núi, bậc THCS 5 năm đầu tăng trung bình, 5 năm cuối giảm, nhất là HS và GV. Điều này cho thấy có sự tụt lùi do những khó khăn khách quan ngày càng tác động mạnh mẽ, rõ ràng mà thời gian trước đã “gồng mình” gánh vác. Bậc PTTH tăng nhanh. Ngành học bổ túc văn hóa, công tác XMC, phổ cập cấp I (PCCI) - BTVH đạt kết quả cao. BTVH tập trung ở 5 năm đầu so với 5 năm sau số học viên cấp I giảm 3%; cấp II giảm gần 20%, cấp III tăng gần 23%. Có nghĩa là nhóm trình độ thấp ý thức học tập giảm sút. Một số khi đã vượt qua cấp II nhu cầu học tăng vì có nhiều cơ hội tiếp cận đào tạo đại học, cao đẳng. Mặt bằng dân trí nhất là học vấn của cán bộ, công nhân viên (CBCNV) nâng lên đáng kể. Giáo dục chuyên nghiệp (không kể ngành sư phạm) mới chỉ có hệ trung học (THCN) và công nhân kỹ thuật (CNKT). Số trường phát triển thích hợp, số HS còn ít, số tốt nghiệp (TN) thấp. Cụ thể từ năm 1975 đến năm 1980 có 5.511 HS như chỉ có 599 HS TN; Từ năm 1980 đến năm 1985 có 6155HS nhưng chỉ có 2120 HS TN. Như thế, những năm sau HS được nâng cao ý thức nhưng tư tưởng xem nhẹ hệ đào tạo này vẫn khá nặng nề. Đầu khóa học đến cuối khóa học HS bỏ học nhiều. Đáng kể là quá trình xóa bỏ các trường Sư phạm hệ 7+2, sáp nhập các trường Sư phạm hệ 10+3 tiến tới thành lập trường Cao đẳng Sư phạm (năm 1978) và ra đời hệ Đại học Sư phạm vừa học, vừa làm (do ĐHSP 1 Hà Nội đào tạo; Ty/Sở Giáo dục tổ chức, quản lý, trường cấp PTTH huấn luyện nghiệp vụ). Chính quy hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD). Thành lập phòng quản lý ở Ty/Sở, trường ĐTBD cấp tỉnh, các huyện, thị. CBGV được chuẩn hóa, nâng cao trình độ theo 3 hình thức tập trung, tại chức, tự học.

Đang tích cực khắc phục hậu quả chiến tranh thì thiên tai ập đến liên tiếp mỗi đợt hàng tháng trong các năm 1978, 1981, 1983, 1984. Mùa màng thất bát, đời sống GV nhất là HS, cơ sở vật chất nhà trường bị ảnh hưởng nặng nề. Nhưng nói chung mọi hoạt động giáo dục vẫn đáp ửng tích cực yêu cầu, nhiệm vụ với xu thế đi lên. Các nhà trường tùy theo đặc điểm ngành học, bậc học đều nhằm mục tiêu “xây dựng con người mới XHCN”, theo phương châm “kết hợp giáo dục với lao động sản xuất - tổ chức đời sống và hoạt động xã hội”. Giáo dục Mầm non (GDMN) tăng cường huy động các cháu ra lớp nhất là mẫu giáo 5 tuổi. Phương hướng là vừa củng cố vừa mở rộng nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường mầm non mà nòng cốt là hệ thống trường trọng điểm. Một số điển hình xuất sắc như: Nhà trẻ xã Quảng Bình (Quảng Xương), Nhà trẻ Nông trường Thạch Thành, Mẫu giáo Ba Đình (thị xã Thanh Hóa). Giáo dục phổ thông có các nét lớn sau:

- Chuyển hệ thống vỡ lòng vào trường cấp I (lớp 1); sát nhập trường cấp I, II thành trường PTCS. Hình thành mạng lưới trường phổ thông vừa học vừa làm theo cụm dân cư liên xã.

- Tập trung thực hiện CCGD ở cấp I theo 2 bước. Bước 1- Chuẩn bị (năm học 1980 - 1981) xây dựng 4 trường trọng điểm ở các vùng miền. Bước 2- Triển khai đại trà lần lượt từ lớp 1 đến lớp 5 theo từng năm học (từ 1981 - 1982). Bồi dưỡng thay sách (dạy theo SGK mới, phương pháp dạy - học) cho GV. Áp dụng chương trình cải tiến môn học ở PTTH.

- Bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ GV: hoàn chỉnh trung học sư phạm cho GV cấp I; trình độ 10+ 3, CĐSP cho GV cấp II; hoàn thành ĐHSP 4 năm và bước đầu đào tạo Sau đại học cho GV cấp III. Tổ chức nhiều đợt học tập chính trị cho CBGV.

- Phong trào thi đua “Hai tốt”, “Xây dựng tổ đội lao động XHCN”, cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương sáng cho HS noi theo” diễn ra sôi nổi. Phong trào lao động sản xuất ra của cải cho xã hội được thúc đẩy rộng khắp, mạnh mẽ. Nhiều đơn vị điển hình  với các sản phẩm đa dạng xuất hiện ở Nông Cống, Nga Sơn, Hoằng Hóa, Triệu sơn, Hậu Lộc, Đông Sơn, Bá Thước, Ngọc Lạc, Thạch Thành,...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ trưởng Bộ GD Nguyễn Thị Bình chụp ảnh lưu niệm với các nhà giáo Thanh Hóa trong đội văn nghệ chào mừng Hội nghị toàn quốci

Ngành học BTVH: trường BTVHVHVL cấp xã (ngay năm 1977 đã có 294 trường), trường văn hóa tập trung (VHTT) cấp huyện liên tục vận động, chiêu sinh học viên, phát động chiến dịch Ánh sáng văn hóa, kết hợp XMC với PC Cấp I để hoàn thành trọng trách. Năm 1981 được Bộ Giáo dục công nhận hoàn thành chỉ tiêu PCCI BTVH cho nhân dân trong độ tuổi ở miền xuôi. Từ 1982 tập trung XMC - PCCI BTVH ở miền núi, tăng cường hình thức BTVH theo chuyên đề (chủ yếu về KHKT) ở nông thôn miền xuôi. Cuối thời kỳ chuyển trọng tâm sang phát triển BTVH cấp II và III khu vực cơ quan dân chính đảng đặt trong trường phổ thông tiếp đến thành lập trường BTVH dân chính.

 Thời kỳ này nổi lên một số đơn vị và cá nhân xuất sắc như: Trường phổ thông cơ sở Hải Nhân - Tỉnh Gia, PTTH Như Xuân, Trường BTVH xã Dân Lý (Triệu Sơn). Thầy giáo Nguyễn Xuân Trạc được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, về sau được tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.

 

File đính kèm: