linh tây tower

Giáo dục Thanh Hóa trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965 - 1975)

Thời kỳ này quân dân Thanh Hóa vừa đóng góp nhiều sức người, sức của cùng cả nước “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vừa lập nhiều thành tích chiến đấu, chiến công vang dội. Tiêu biểu nhất là chiến thắng lịch sử 3 và 4 tháng 4 năm 1965 trên bầu trời, ở 3 chiến địa nổi tiếng Đò Lèn, Hàm Rồng, phà Ghép. Hai ngày tiêu diệt 47 máy bay phản lực hiện đại của đế quốc Mỹ. Trở thành Ngày Hội truyền thống chiến đấu và chiến thắng ngoại xâm của quân dân Thanh Hóa. Nhưng nhân dân tỉnh ta cũng chịu những tổn thất không nhỏ, trong đó có tổn thất của ngành GD&ĐT. Chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968) đế quốc Mỹ đã đánh phá 454 lần vào 131 trường học(có 92 lần HS đang học) phá hủy 789 phòng học cùng nhiều thiết bị dạy học. Sát hại 32 CBGV, 592 HS; làm bị thương 54 CBGV, 704 HS. Trong đó nhiều vụ dã man như ném bom vào trường cấp 1 Hải Hòa (Tĩnh Gia), ngày 31/1/1966; nhà trẻ ở xã Vĩnh An (Vĩnh Lộc) ngày 29/1/1967; trường cấp 1 và cấp 2 Hà Phú (Hà Trung) ngày 27, 28/9/1967. Chiến tranh phá hoại lần thứ 2, 25 trường bị tàn phá. Trận bom rải thảm xuống trường cấp 1, cấp 2 Đông Yên sáng ngày 27/4/1972, 14 HS, 2 GV bị sát hại, 43 em khác bị thương. Cô giáo Nguyễn Thị Nga hy sinh ngay trên bục giảng. Tại khu tập thể GV, 2 con nhỏ của cô cũng bị chết. Ngày 14/6/1972, trong khi hàng ngàn CBGV, HS, SV các trường phổ thông, sư phạm, thương nghiệp, y tế, trường phổ thông đang đắp đê sông Mã tại Nam Ngạn - Hàm Rông thì bị dội bom. 30 người hy sinh, 28 người bị thương.

 

 

 

Trong bối cảnh ác liệt như vậy, GD& ĐT theo phương châm “Trường sơ tán tương đối tập trung, lớp triệt để phân tán, đảm bảo đúng tiến độ năm học”; “Trường lớp là trận địa, giáo viên, học sinh là chiến sĩ, quyết tâm dạy thật tốt, học thật tốt, xây dựng trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước”. Các “chân đế” giáo dục: mầm non, phổ thông, BTVH, đào tạo chuyên nghiệp vẫn nhịp bước tiến lên với các “đỉnh” ngày càng “nhô cao”. Đội ngũ CBGV, HS ngày càng phát triển vững chắc. Thành quả thu được không nhỏ, thành tích hết sức đáng khích lệ. Thực sự đã đáp ứng tích cực 3 nhu cầu được giao phó. Đó là tạo nguồn lao động trí thức vừa “hồng” vừa “chuyên” cho hiện tại cũng như tương lai; sẵn sàng cung cấp những chiến sĩ có văn hóa, giàu tinh thần xả thân vì nước cho chiến trường và chi viện cho giáo dục cách mạng miền Nam, nước bạn Lào.

 

 

Bộ Trưởng Bộ GD Nguyễn Văn Huyên tại Hội nghị thi đua giáo dục

Thanh Hóa năm 1967

Bậc học vỡ lòng, mẫu giáo phát triển vượt bậc, tỷ lệ huy động đạt 25% trên tổng số cháu lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo bé; 80% số cháu ở độ tuổi vỡ lòng. Đảm bảo cho các cháu được giáo dục tốt, cha mẹ yên tâm sản xuất, chiến đấu. Bậc học phổ thông xây dựng mạng lưới chuyên môn liên trường, tổ chức nhiều lớp chuyên đề môn học; cải tiến nội dung phương pháp, dạy học theo nguyên tắc 3 kỹ (soạn kỹ, dạy kỹ, chấm kỹ); thâm nhập sâu vào đời sống lao động với phương châm “nhà trường là một lực lượng sản xuất”. Bên cạnh phong trào thi đua Hai tốt là các phong trào Luống rau chống Mỹ, mảnh vườn cứu nước; Điểm mười hạ máy bay Mỹ; Vở sạch chữ đẹp; Ba nề nếp (giảng dạy, học tập, quản lý). Năm học 1964 - 1965 có 826 trường 243.758 HS, 6.955 GV. Năm học 1974 - 1975 là 1804 trường, 526.925 HS, 18.374 GV. Tỷ lệ HS phổ thông so với dân số năm 1965 là 13, 2%; năm 1975 là 23,9% (năm 1985 chỉ là 21%; 1995 là 22,32%). Ngay năm học 1964 - 1965, học sinh giỏi của Thanh Hóa lần đầu tiên giành thắng lợi lớn trong kỳ thi HSG cấp 3 toàn miền Bắc (bắt đầu tổ chức từ năm học 62/63). Đội HSG Văn đạt giải Nhất đồng đội, 1HS đạt giải Nhì; đội Toán đạt giải Khuyến khích, 1 HS đạt giải Ba. Nhưng đây chỉ xem là 1 lần đột khởi, chưa phải là thế mạnh của GD&ĐT Thanh Hóa. Ngành học BTVH “phải thành phong trào, đưa vào nề nếp” rất được chú trọng. Đảng ủy các cấp đều có chỉ thị, nghị quyết về giáo dục như sản xuất. Giao trách nhiệm cho xã, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị; mở rộng mạng lưới trường BTVH tập trung; thành lập trường BTVH dân chính tỉnh (22/7/1971), xây dựng lực lượng GV chuyên trách đông đảo. Lực đẩy mạnh mẽ này đã mở ra một thập niên BTVH sôi nổi, tận tụy trong khói bom, lửa đạn. Nhiều điển hình tiên tiến từ miền xuôi đến miền núi, nông thôn đến thành thị, HTX đến nhà máy, xí nghiệp, nông trường xuất hiện. Xã Điền Quang (Bá Thước) được tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Trường BTVH vừa học vừa làm Hoằng Trinh điển hình cho mô hình “học kết hợp với hành, vừa học vừa lao động sản xuất”. Giáo dục chuyên nghiệp phát triển rầm rộ. Đến mức, tháng 5/1970, Ủy ban Hành chính tỉnh phải ra Nghị quyết 278 ĐT/UBTH “Quy hoạch lại mạng lưới các trường chuyên nghiệp”, sau khi nhận xét “việc phát triển về số lượng qua nhanh đã vượt quá các điều kiện khác để đảm bảo chất lượng”. Từ tổng số 93 trường (kể cả một số trường văn hóa tập trung) còn 20 trường trung cấp, sơ cấp chuyên nghiệp; 5 trường bồi dưỡng cán bộ quản lý, 7 trường công nhân kỹ thuật thuộc các ngành nghề sư phạm, nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế - tài chính, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật ở cả miền xuôi, miền núi. Giáo dục miền núi tiếp tục được tăng cường  cả cơ sở vật chất đến biên chế trường lớp, GV, HS. Đến năm 1974 các chỉ tiêu này đều tăng từ 4,6% đến 24,4%.

Phong trào thi đua trong các ngành học, bậc học hết sức sôi nổi. Năm học 1967- 1968 có 200 trường là Trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước, 25 tổ Lao động XHCN, 45 xã tiên tiến về BTVH. Thầy giáo Nguyễn Văn Huê, Hiệu trưởng Trường cấp 1 Hải Nhân được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Năm học 1971 - 1972, 116 trường tiên tiến, 7 xã toàn diện về giáo dục. Năm học 1974 - 1975, 537 đơn vị được tuyên dương điển hình tiên tiến xuất sắc. Trường cấp 1 Pù Nhi (Quan Hóa/Mường Lát) “Điển hinh đặc sắc của sự thực hiện phương châm phát triển giáo dục miền núi”. Trường cấp 1 Hải Nhân “Mười năm giữ vững ngọn cờ đầu trong giáo dục phổ thông cấp 1 toàn miền Bắc”. Xã Hoằng Trinh (Hoằng Hóa) “tiêu biểu cho xã có phong trào giáo dục toàn diện”.

Chính nhờ nền tảng vững vàng này mà trong 10 năm (1965 - 1975), dân trí tỉnh ta được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho phổ cập giáo dục tiểu học - xóa mù chữ ở thời kỳ sau. Cho nên khi bước vào giai đoạn nước rút, bình quân cả nước mới 1/3 số xã và 1/4 số huyện đạt chuẩn phổ cập thì Thanh Hóa đạt 2/3 số xã và gần 2/3 số huyện. Trình độ văn hóa của đội ngũ cán bộ cũng tăng đáng kể. Trên 200 ngàn HS phổ thông được đào tạo trung, sơ cấp chuyên nghiệp/nghề, khoảng 80 ngàn được đào tạo đại học theo các chuyên ngành khoa học kỹ thuật khác nhau. Trong đó một số lượng không nhỏ gửi đào tạo ở các nước XHCH. Họ là thế hệ cách mạng nòng cốt, nguồn nhân lực chất lượng cao chủ yếu trong các giai đoạn sau.

Ngoài phát triển tự thân, GD&ĐT Thanh Hóa còn tham gia tích cực các phong trào chính trị - xã hội; giúp đỡ giáo dục cách mạng Lào; HS vùng “tuyến lửa” (Vĩnh Linh, Quảng Bình); chi viện giáo dục cách mạng miền Nam. Theo Hiệp định hợp tác kinh tế văn hóa Thanh Hóa - Hủa phăn năm 1967, Ngành đã cử đoàn CB, GV gồm 21 chuyên gia sang Hủa Phăn; mở trường đào tạo cho 2.000 HS của nước bạn Lào. Đến khi kết thúc chiến tranh phá hoại, Thanh Hóa đã nuôi dưỡng, bố trí học tập cho 14.682 HS Quảng Bình, Vĩnh Linh. Cũng đã “đùm bọc” trường ĐHSP Vinh sơ tán từ 1965 đến 1969. GD&ĐT Thanh Hóa đã góp phần đáng kể chi viện cho giáo dục cách mạng miền Nam. Năm 1955 đón tiếp, mở trường cho học sinh miền Nam tập kết theo hiệp định Giơ-ne-vơ. Năm 1974 tạo điều kiện tốt nhất cho 2 trường HS miền Nam số 16, 17 (đặt ở Hà Trung) hoạt động. Theo tư liệu của Ban Liên lạc nhà giáo đi B (miền Nam) của tỉnh, từ 1964 đến 1975, 345 thầy, cô giáo được cử làm nhiệm vụ ở vùng giải phóng (chiếm 1/10 CBGV miền Bắc chi viện). Nhiều người đã ngã xuống trong tư thế nhà giáo - chiến sĩ - liệt sĩ, như các thầy Nguyễn Đoan Ngọ (Hoằng Hóa), Lê Trọng Thế (Triệu Sơn), Mai Văn Bính (Thọ Xuân), Cao Văn Xứng (Nông Cống),...

 Thời gian này, tiếp nối truyền thống của thế hệ chống Pháp, hàng chục ngàn HS, GV đã lên đường trực tiếp đánh giặc. Hàng ngàn người là liệt sĩ, thương binh. Chỉ tính riêng Trường cấp 3 huyện Hậu Lộc, trong số 6.866 HS (1965 - 1975) đã có gần 1 ngàn nhập ngũ, 133 người anh dũng hy sinh. Cả tỉnh có gần 70 người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang. Có thể kể đại diện như Lê Mã Lương 17 tuổi đang học lớp 8 (1967) Trường cấp 3 Nông Cống, xung phong nhập ngũ với câu nói nổi tiếng “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù”. Năm 1971 được tuyên dương anh hùng. Lê Văn Ức HS Trường cấp 3 Hoằng Hóa 2, nhập ngũ năm 1968, cùng được phong Anh hùng một đợt với Lê Mã Lương, Lục Vĩnh Tưởng người dân tộc Thái HS Trường cấp 2 Thanh Lâm, Như Xuân, Trần Thanh Hải HS Trường cấp 3 Triệu Sơn,...19 “học sinh” trở thành tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, như Trung tướng Lê Hải Anh, Trung tướng Nguyễn Khắc Dương, Trung tướng Bùi Sĩ Vui, Thiếu tướng Lê Quang Bình, Thiếu tướng Trịnh Văn Noi, Thiếu tướng Nguyễn Đức Quý, Thiếu tướng Lê Minh Vụ, Thiếu tướng Mai Hồng Bỉnh,...

 

File đính kèm: