linh tây tower

Giáo dục Thanh Hóa giai đoạn 1945 đến 1954

1. Giáo dục trong năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (2/9/1945), Chính quyền cách mạng tỉnh đã thành lập bộ máy quản lý giáo dục theo Nghị định của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ. Cơ quan quản lý cấp tỉnh ban đầu gọi là Nha học chính, không lâu sau chia ra 2 ty, Ty Thanh tra tiểu học và Ty Bình dân học vụ (BDHV). Lãnh đạo có Trưởng ty - Chánh Thanh tra và một số Phó Thanh tra. Ông Phạm Phú Lượng được cử làm Giám đốc Nha rồi Trưởng Ty Thanh tra tiểu học, ông Lê Duy Hoàn làm Trưởng ty BDHV. Các ông Chu Đình Vấn, Chu Đình Lơi, Nguyễn Trí Khiết, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Văn Thọ, Đinh Văn Liên làm Phó Thanh tra phụ trách 1 hay 1 số huyện. Bầu Ủy ban học chính (với nhiệm vụ cố vấn, giám sát giáo dục, ngăn ngừa hoạt động phá hoại; ủng hộ chính quyền nhân dân) gồm 15 ủy viên đại diện các huyện, thị do ông Trần Khiêu làm Chủ tịch. Tiếp đến, khẩn trương chuẩn bị khai giảng năm học đầu tiên của nền giáo dục mới - Nền giáo dục cách mạng (1945 - 1946). Ủy ban Lâm thời Nhân dân tỉnh gửi quyết định cho Ủy ban Lâm thời Nhân dân các huyện yêu cầu giải tán các hương trường (trường của làng). Học sinh (HS) tùy điều kiện, hoàn cảnh có thể học ở trường tiểu học hoặc lớp truyền bá quốc ngữ (tương tự lớp BDHV, xuất hiện từ trước cách mạng); bàn giao lại nhà trường cho Nha học chính, tu sửa bàn ghế, trường lớp; ổn định trường lớp, đổi tên một số trường, củng cố, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên (giữ nguyên, thải hồi, thuyên chuyển, tuyển dụng mới) và phát lệnh chiêu sinh. Thứ hai, ngày 1/10/1945 hầu hết các nhà trường phổ thông ở tỉnh ta tổ chức lễ khai giảng. Thứ ba, nỗ lực chống giặc dốt với 2 mục tiêu trọng yếu là xóa mù chữ (XMC) và triển khai BDHV. Đây là quốc sách. Ngày 3/9/1945, khi nêu “Những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quyết liệt: “Vấn dề thứ hai, nạn dốt - Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân đã dùng để cai trị chúng ta. Hơn 90% đồng bào chúng ta mù chữ,...Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị một chiến dịch để chống nạn mù chữ”(6). Chính phủ ra Sắc lệnh quy định việc học chữ quốc ngữ không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn định trong 1 năm từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết. Ngày 4/10/1945, Bác Hồ lại ra Lời kêu gọi chống nạn thất học. Chính phủ quyết định chuyển các công chức ít việc điều đi xóa mù chữ thời hạn 1 năm. Công chức bận việc thì luân phiên làm công tác BDHV 4 tháng. Trung ương, tỉnh, huyện, xã, thôn đều mở lớp huấn luyện giáo viên BDHV. Ở Thanh Hóa các huyện, thị, thôn, xã đều lập Ban BDHV gồm chủ tịch, phó chủ tịch, các kiểm soát viên và giáo viên (GV). Cử 1 đoàn GV ra Hà Nội dự khóa huấn luyện Hồ Chí Minh về phương pháp dạy BDHD. Các địa phương mở nhiều lớp ngắn hạn huấn luyện GV cho thôn xóm. Phong trào thi đua diệt dốt, học BDHV diễn ra sôi nổi khắp nơi. Nhờ vậy đến cuối năm 1946 dù phải chống giặc đói, đối mặt với sự gây hấn của quân Tàu Tưởng và tay sai nhưng đã có hàng vạn người thoát nạn mù chữ.

 

Chào cờ Việt Nam DCCH lần đầu tiên (1945) tại sân trường Collège Đào Duy Từ

2. Giáo dục trong kháng chiến chống thực dân Pháp

Ngày 19/12/1946, sau Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “Thà hy sinh tất cả chứ  không chịu mất nước, không chiụ làm nô lệ”, kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược trở lại bùng nổ. Chủ tịch UBHC tỉnh gửi hiệu triệu đến tất cả các trường  trong tỉnh cổ vũ tinh thần GV, HS đối với công cuộc bảo vệ non sông đất nước. Bộ Quốc gia Giáo dục ra huấn thị:“Sự giáo dục trong thời kỳ kháng chiến cũng như lúc bình thường rất quan hệ với tiền đồ quốc gia, vì thanh niên là sức hoạt động hiện tại và vốn liếng của tương lai nước nhà. Vì vậy theo chỉ thị của Cụ Chủ tịch trong dịp tết Nguyên đán vừa rồi, những nơi chưa trực tiếp với chiến tranh, các trường cần phải tiếp tục việc giảng dạy. Nhưng cần phải sửa sang nội dung cho sát với trường kỳ kháng chiến”. Ngành Giáo dục non trẻ Thanh Hóa cùng nhân dân toàn tỉnh bước vào cuộc kháng chiến. Từ tháng 4 đến tháng 6/1947 hoàn tất việc phân tán, nhanh chóng ổn định hoạt động. HS học tại các trường ở địa điểm tản cư. Trường trung học Đào Duy Từ, trường công lập duy nhất của tỉnh chia về 3 huyện Vĩnh Lộc, Thiệu Hóa, Thọ Xuân (từ năm học 1947 - 1948 tập trung tất cả ở vùng Cốc, nay thuộc xã Xuân Lộc, Triệu Sơn). Từ đây đến khi kháng chiến thắng lợi (tháng 10/1954), trong không gian Thanh Hóa - hậu phương, căn cứ vững mạnh của kháng chiến, Giáo dục & Đào tạo Thanh Hóa được xây dựng, phát triển nhanh chóng.                                         

a) Phong trào xóa mù chữ, bình dân học vụ tiếp tục đạt nhiều thành quả                                                                                                                                               

Kháng chiến mới 2 tháng thì ngày trong 2 ngày 20, 21/2/1947, Hồ Chủ tịch vào thăm Thanh Hóa. Ngoài giao nhiệm vụ xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh “kiểu mẫu”, Bác rất chú ý đến xóa mù chữ và  BDHV. Nghe ông Lê Duy Hoàn Trưởng ty BDHV báo cáo thành tích và những khó khăn của tỉnh, Bác liền giao ngay cho hai ông Lê Thước và Đặng Thai Mai là Bí thư và Chủ tịch tỉnh thành lập Ban Văn hóa với trách nhiệm “làm sao đến tháng 6/1947 số người mù chữ bớt 50% so với hiện tại”. Bác thay mặt Chính phủ giao cho Thanh Hóa 100.000 đồng để làm quỹ phát triển. Người chỉ ra một số biện pháp phù hợp, hiệu quả nhất để thực hiện. Như tổ chức “gia đình học hiệu” (trường học ở gia đình - gia đình là trường học), sử dụng “tiểu giáo viên”,“cả làng chung gạo nuôi thầy giáo”, “không có giấy thì viết vào cát, không có bút thì viết dùng lẻ tre”(7). Bác còn căn dặn: "Chẳng những chỉ biết chữ mà còn phải học đạo đức công dân, phổ thông chính trị. Thứ hai còn phải mở mang lớp trung học...". Sự quan tâm chu đáo, tình cảm sâu nặng và những lời dạy ân cần của Bác chính là một trong những động lực lớn lao để Thanh Hóa nỗ lực trong công tác XMC, BDHV. Có thể nói, thời kỳ này là “những năm tháng XMC, BDHV” sôi nổi, say mê ở mọi đối tượng, trong mọi phương diện. Thành lập Tiểu ban điều tra chống nạn mù chữ từ cấp  tỉnh đến cấp huyện do chủ tịch hoặc đại diện ủy ban làm chủ tịch. Lập Phòng đại diện BDHV vùng cao (lúc bấy giờ gọi là thượng du gồm 9 huyện miền núi ngày nay, Thạch Thành, Cẩm Thủy xếp vào vùng trung du). Tăng cường đào tạo, huấn luyện giáo viên dạy BDHV cho hàng ngàn người. Mở các lớp cho cán bộ miền núi, cán bộ nữ, lớp bổ túc bình dân ngoài giờ. Theo sát các đợt phục vụ kháng chiến (dân công Thượng Lào, Điện Biên Phủ) để mở lớp. Thành lập trường trung học bình dân Trần Phú, trường bổ túc bình dân Nguyễn Công Mỹ cho cán bộ cấp xã trở lên, trường phổ thông lao động (học viên được thoát ly công tác để học tập) và trường ở các khu vực. Biên soạn, in phát hành hàng vạn tài liệu giáo  khoa. Ngoài kiến thức, kỹ năng môn học nội dung tài liệu bám sát phong trào chính trị xã hội của quần chúng, chủ trương chính sách từng thời  kỳ để vừa dạy chữ vừa tuyên truyền, giáo dục tư tưởng. Tổ chức Đại hội BDHV toàn tỉnh, phát động liên tục các đợt thi  đua thanh toán nạn mù chữ, chiến dịch diệt dốt, tuần lễ diệt dốt do các đoàn thể, tầng lớp (công nông, phụ lão, thanh niên, dân quân,...) phụ trách. Hưởng ứng mạnh mẽ Giải thưởng thi đua diệt dốt của Nha BDHV, phong trào Thi đua toàn xã biết chữ.                                                   

Tóm lại, qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, GD&ĐT Thanh Hóa dần nâng cao, mở rộng trình độ dân trí.  Gần 100% cán bộ, đảng viên trình độ dự bị bình dân (lớp 2, 3) trở lên. Khoảng 30% người dân biết đọc, biết viết (sơ cấp bình dân). Tính chất hoạt động cũng từ “cưỡng bách” chuyển sang vận động, tự nguyện và trở thành sự nghiệp của quần chúng.

b) Giáo dục phổ thông phát triển vượt bậc

Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Thanh Hóa với hơn 1 triệu dân, 21 huyện, gần 2000 làng nhưng chỉ có khoảng 400 hương trường thuộc bậc sơ học (tương đương từ lớp 1 đến lớp 3 hiện nay), hơn 10 trường tiểu học Pháp - Việt, 1 trường trung học công lập (tương đương trung học cơ sở - THCS), vài trường tư thục. Sau đó cơ cấu lại mạng lưới trường học nên có 183 trường tiểu học (đa phần chưa hoàn chỉnh). Giáo dục phổ thông (GDPT) là giáo dục tiểu học. Cơ quan quản lý giáo dục cấp tỉnh gọi là Ty Thanh tra tiểu học. Từ năm 1947 đến 1954, bậc học vỡ lòng (lớp 1 bây giờ), tiểu học (lớp 2 đến lớp 5 bây giờ) và trung học (THCS) mà sau cải cách giáo dục 1950 (hệ 9 năm) gọi là cấp I (4 năm), cấp II (3 năm) đã tăng trưởng vượt bậc vì được tận lực phát triển. Trung học phổ thông (THPT) - cấp III (2 năm) có 2 trường. GDPT gồm 3 loại hình: công lập, dân lập, tư thục. Có những thời gian 2 loại hình “xã hội hóa” mọc lên như nấm mùa xuân: 34 trường dân lập, trên 100 trường tư thục ở cả 3 cấp khiến phải chấn chỉnh lại. Nếu năm 1950 mới mở 1 lớp cấp II cho miền núi đặt tại trường cấp I Ngọc Lặc thì đến 1952 hầu hết các xã miền núi đều có trường cấp I, một số trường cấp II. Để phù hợp đối tượng quản lý tháng 10/1950 Ty Thanh tra tiểu học đã đổi thành Ty Giáo dục phổ thông chính là do sự lớn mạnh nhanh chóng của ngành học. Năm 1952 (ngày 26/8) sát nhập 2 Ty thành Ty GDPT và BDHV, từ đây 2 phương diện trọng yếu của giáo dục được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất nên càng thuận lợi phát triển.Đến 1953 - 1954, Thanh Hóa đã có 1.011 lớp vỡ lòng, 1.036 GV, 26.499 HS; năm học 1954 - 1955 có 544 trường phổ thông, 67.129 HS. Phân ra cấp I - 56.725 HS; cấp II - 9.689 HS; cấp III - 715 HS. Các Phòng Giáo dục được thành lập, thực hiện phân cấp quản lý theo địa bàn. Tương ứng với sự gia tăng nhanh trường lớp, công tác đào tạo, bồi dưỡng GV cũng rất được chú ý. Các trường, lớp, trại huấn luyện sư phạm liên tục được mở ra. Dù đội ngũ này xuất phát điểm thấp, phần lớn không chính quy, niên hạn đào tạo ngắn nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Phong trào thi đua dạy và học cũng rất có khí thế. Từ tháng 12 - 1950 mở cuộc vận động xây dựng Trường Kiểu mẫu trên phạm vi toàn tỉnh (cơ ngơi khang trang, bàn ghế đầy đủ, dạy và học tốt, có vườn tăng gia). Cô giáo Lê Thị Hải Đường, GV trường cấp I xã Hạnh Phúc (Thọ Xuân) là người đầu tiên được công nhận Chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh. Sau đó tại Đại hội thi đua toàn quốc năm 1952 (họp ở Tuyên Quang) được công nhận Chiến sĩ thi đua toàn quốc.                                                                            

c) Chú trọng bồi dưỡng cán bộ, giáo viên, học sinh về tư tưởng chính trị, tinh thần kháng chiến - kiến quốc, ý thức tham gia  hoạt động xã hội

Ngành GD&ĐT Thanh Hóa đặc biệt coi trọng công tác này bởi tư tưởng “phi chính trị”, quan niệm nhà trường là một “ốc đảo” không cần quan tâm tới biến đổi xã hội do nền giáo dục cũ để lại còn khá nặng nề. Từ năm 1947, kỳ nghỉ hè nào cũng mở lớp chỉnh huấn - bồi dưỡng, huấn luyện tư tưởng chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, giáo viên (CBGV) và HS cấp II, III. Nhiều phong trào được tổ chức sâu rộng, chặt chẽ, gây ấn tượng sâu sắc, có tác động mạnh mẽtạo khí thế mới cho ngành. Năm 1949  là phong trào “xung  Thiên, xung thượng, xung quân” ủng hộ vật chất, xung phong vào giúp giáo dục Bình - Trị - Thiên và vùng cao; vận động quyên góp, may áo rét cho bộ đội; nỗ lực tăng  gia sản xuất. Trong số 595 học sinh trường trung học Đào Duy Từ đã có 514 học sinh (37 nữ) tình nguyện tòng quân, 64 người nhập ngũ; phối hợp với Bộ Tư lệnh Liên khu IV  huấn luyện quân sự cho GV, HS. Năm 1950, năm 1951 sôi động phong trào “Rèn luyện cán bộ, chỉnh đốn cơ sở”, “Học tập dân chủ” cho hiệu trưởng, GV trung học tư thục, “chống văn hóa nô dịch”. Từ năm 1952 đến năm 1954 “tham gia đấu tranh chính trị, phát động giảm tô, cải cách ruộng đất”, tổ chức “đoàn xe thồ phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ”. Sau các phong trào, Đảng đã xác lập vững chắc sự lãnh đạo cuả mình trong giáo dục từ tỉnh đến cơ sở. Ban cán sự Đảng ngành Giáo dục thành lập, các nhà trường được chấn chỉnh.

d) Giúp đỡ tận tâm giáo dục vùng tạm chiếm, tạo điều kiện thuận lợi trong xây dựng, phát triển giáo dục chuyên nghiệp của đất nước

Ta và địch ở tình thế “cài răng lược”. Thanh Hóa là vùng hậu phương an toàn, vững chắc, giai đoạn này đã tiếp nhận nhiều cơ quan, trường học của giáo dục Khu III, vùng đang do thực dân Pháp tạm chiếm. Từ Khu Giáo dục, trường Sư phạm trung cấp đến trường phổ thông như chuyên khoa (THPT) Nguyễn Thượng Hiền, trung học Nguyễn Huệ (Hà Đông cũ), Lê Quý Đôn (Thái Bình), Hoa Lư (Ninh Bình), Nguyễn Khuyến (Nam Định), Nguyễn Biểu (Hà Nam). Đây cũng là nơi ra đời của nhiều cơ sở giáo dục chuyên nghiệp của giáo dục quốc gia: sư phạm, ngoại giao, dự bị đại học, đại học.

 Giai đoạn 1946 - 1954 là giai đoạn khởi đầu nước Việt Nam mới, của nền giáo dục của dân, do dân, vì dân. Dù trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trường kỳ, gian khổ nhưng có thể khẳng định Thanh Hóa đã tạo dựng được một nền tảng giáo dục thành công. Đại đa số nhân dân và con em đều được hưởng thụ với hiệu quả không nhỏ. Người làm công tác giáo dục trở thành chiến sĩ trên mặt trận giáo dục. Tạo điều kiện cho sự phát triển ở các giai đoạn sau.

File đính kèm: