linh tây tower

Đặc điểm Địa lý tỉnh Thanh Hóa và giáo dục Tỉnh Thanh Hóa trước cách mạng tháng 8 năm 1945

I- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, tọa độ từ 19033’ đến 20030’ vĩ Bắc; 1040 đến 106030’ kinh Đông. Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt. Tương ứng là 2 loại gió mùa đông bắc (gió Bấc) và tây nam (gió Lào). Phía Bắc giáp Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, đường địa giới dài 175 km. Phía Nam, Tây Nam giáp Nghệ An, đường địa giới dài 160 km. Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (tỉnh Hủa Phăn) đường biên giới dài 192 km. Phía Đông là vịnh Bắc Bộ, đường bờ biển dài 102 km. Tổng diện tích toàn tỉnh là 29.928 km2, với 11.168 km2 phần đất nổi, chia làm 3 vùng. Vùng miền núi - trung du chiếm 2/3 diện tích tự nhiên. Vùng đồng bằng khoảng 3.100 km2 và vùng biển - thềm lục địa. Từ Bắc vào Nam, có 5 hệ thống sông: sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng. Hệ thống sông Hoạt nằm trên địa phận Hà Trung - Nga Sơn, lưu vực 250 km2. Hệ thống sông Mã - sông Chu lớn nhất và quan trọng nhất, lưu vực gần 9.000 km2, bao trùm 4/5 diện tích toàn tỉnh. Sông Mã dài 528 km, bắt nguồn từ tỉnh Điện Biên chảy qua tỉnh Sơn La, qua nước Lào rồi vào Thanh Hóa. Đoạn chảy trên đất Việt 410 km, đã có 242 km trong địa phận tỉnh qua Mường Lát - Quan Hóa - Bá Thước - Cẩm Thủy - Vĩnh Lộc - Yên Định - Thiệu Hóa - TP Thanh Hóa - Hoằng Hóa. Hệ thống sông Yên khởi đầu từ vùng núi Như Xuân chảy qua Nông Cống, Đông Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia, dài 89 km, lưu vực 1800 km2. Hệ thống sông Bạng cũng bắt nguồn từ Như Xuân, dài 35 km, lưu vực 236 km2 nằm gần hoàn toàn trên đất Tĩnh Gia, nối với sông Hoàng Mai (Nghệ An) bằng kênh Son, nối với sông Yên qua kênh Than. Những hệ thống sông tự nhiên nói trên phân bố đều khắp từ Tây xuôi Đông; từ Bắc đến Nam tạo nên huyết mạch giao thông, thủy lợi và cung cấp nước sinh hoạt của Thanh Hóa.
Thanh Hóa xứ của rừng bao la, biển rộng lớn, đa dạng, giàu tài nguyên. Rừng tự nhiên là rừng rậm nguyên sinh, đất và núi đá phân bổ ở các đai thấp (từ 300m đến dưới 1600m). Nếu theo mục đích sử dụng, rừng gồm cả ba loại đặc dụng, phòng hộ, sản xuất. Các quần xã thực vật, quần thể động vật phong phú, chủ yếu là: lim xanh, chò chỉ, chò nâu, táu mật, sến, lát, đinh, dẻ, re đá, mun đá, nghiến, pơ mu, quế, luồng, nứa... bò tót, hổ, gấu, báo, hoẵng, cầy, hươu, nai, trăn, rắn, kì đà, tê tê,... Nguồn dược liệu cũng dồi dào với trên 600 loài cây thuốc tự nhiên (thiên niên kiện, sa nhân, bách bộ, ngũ gia bì, hoàng đàn...).
Hiện tại, Thanh Hóa gồm 1 thành phố loại 1 trực thuộc tỉnh (TP Thanh Hóa), 2 thị xã (Bỉm Sơn, Sầm Sơn), 24 huyện (11 huyện miền núi). Dân số theo thống kê năm 2005 có 3.673.225 người (điều tra năm 2013 là 3.412.600 người) với nhiều thành phần dân tộc. Dân tộc Kinh chiếm 84,4%, Mường - 8,7%, Thái - 6%. Các dân tộc khác (H.mông, Thổ, Dao, Khơ-mú, Sán Dìu, Tày, Sán Chay, Hoa) chiếm gần 1%. Các dân tộc dù bản địa hay di cư, miền núi hay miền xuôi từ hàng ngàn năm trước đến ngày nay đều chung nhau một gia sản văn hóa - lịch sử - xã hội, luôn hòa thuận, đoàn kết khai phá, xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước(1).
II- KHÁI QUÁT LỊCH SỬ XÃ HỘI TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8
Thanh Hóa 40 vạn đến 4 nghìn năm trước là quê hương của người Việt nguyên thủy. Cách nay khoảng 4000 đến 2000 năm bước vào thời đại đồ đồng, cùng trung du - đồng bằng Bắc bộ là cái nôi của văn hóa Đông Sơn(2), sau đó thuộc bộ Cửu Chân trong quốc gia Việt cổ Văn Lang của các Vua Hùng. Đây cũng đất phát tích của 4 trong số 9 vương triều phong kiến nước ta: Tiền Lê (980 - 1009), Hồ (1400 - 1407), Hậu Lê (1428 - 1789, Nguyễn (1802 - 8/1945) cùng 2 đời chúa: Trịnh (1545 - 1786) và Nguyễn (1600 - 1802). Cho nên có thể nói, Thanh Hóa là một trong những vùng đất khởi nguyên của quốc gia - dân tộc.
Thanh Hóa là quê hương của nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa. Bà Triệu (226 - 248) lãnh đạo khởi nghĩa chống Đông Ngô. Người con gái 22 tuổi “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người”. Dương Đình Nghệ (? - 937) đặt nền móng vững chắc cho 10 thế kỉ phong kiến độc lập tự chủ. Lê Hoàn (941 - 1005) “thắng Tống, bình Chiêm”. Ngô Chân Lưu (933 - 1011) nhà ngoại giao đầu tiên. Lê Văn Hưu (1230 - 1322) “sử gia đầu tiên”. Hồ Quí Ly (1335 - ?) nhà cải cách xã hội đầu tiên. Lê Lợi (1385-1433) dựng cờ khởi nghĩa đập tan ách đô hộ nhà Minh năm 1428. Mười năm gian khổ ác liệt “Một mảnh nhung y chiến thắng nên công oanh liệt ngàn năm / Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”. Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) “mở cõi phương Nam”. Đào Duy Từ (1572 - 1634) “tổ sư nghệ thuật tuồng”. Lê Đình Kiên (1620 - 1704) xây dựng Phố Hiến (nay thuộc TP Hưng Yên) một trong hai đô thị đầu tiên của nước ta.
Thanh Hóa là một trong những địa phương phát triển của quốc gia. Thời Văn Lang - Âu Lạc trên đất Thanh Hóa nông nghiệp ổn định, nghề thủ công thịnh vượng, từ khai thác thủy sản đã vươn ra biển khơi đánh bắt hải sản. Bắc thuộc 100 năm nhưng các ngành nghề kinh tế vẫn duy trì. Hoạt động sản xuất, trao đổi buôn bán tương đối nhộn nhịp. Những hào trưởng lớn như Triệu Quốc Đạt, Lê Lương, Dương Đình Nghệ trong nhà chứa hàng trăm lẫm thóc, nuôi hàng ngàn “tân khách”, “nghĩa tử”. Dưới chế độ phong kiến tự chủ, Thanh Hóa rất được chú ý phát triển. Các vương triều tất cả 40 lần đào sông thì đã đào ở Thanh Hóa 19 lần. Trần Cương Trung sứ thần nhà Nguyên trong An Nam tức sự mô tả trấn thành khi ấy đặt ở Duy Tinh (Văn Lộc, Hậu Lộc) vào năm 1293 đời Trần Nhân Tông như sau: “Phủ Thanh Hoa cách thành Giao Châu 200 dặm, các phiên thuyền hải ngoại tụ tập ở đấy, họp chợ ngay trên thuyền rất đông. Thật là một thị trấn lớn”. Bên cạnh các đô thị có cả các đô thành: Tây Đô (1400), Dương Xá - Doanh Xá (nay đều thuộc TP Thanh Hóa), Vạn Lại, Yên Trường, An Lãng (Thọ Xuân) thời Lê Trung hưng. Nhiều thị tứ / chợ ra đời, có những chợ còn “họp” đến hôm nay: chợ Giáng (Vĩnh Lộc), chợ Kiểu, chợ Bản (Yên Định), chợ Đầm (Thọ Xuân), chợ Môi (Quảng Xương), chợ Quăng (Hoằng Hóa),... Hình thành hệ thống cảng biển, cảng sông thông thương các vùng trong tỉnh, từ bắc vào nam.
Thanh Hóa là hậu phương, căn cứ địa vững chắc chống ngoại xâm. Thời Bắc thuộc, cư dân Cửu Chân tập hợp dưới cờ của Đô Dương, Chu Bá, Lê Thị Hoa tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40). Tiếp theo là căn cứ khởi nghĩa của Chu Đạt (năm 156), anh em Triệu Quốc Đạt - Triệu Thị Trinh (năm 248), Triệu Chỉ (năm 299); cuộc nổi dậy năm 412, khởi nghĩa năm 546 của Lý Thiên Bảo. Mười thế kỉ phong kiến độc lập tự chủ, vương triều Ngô, Tiền Lê, Lý đại phá xâm lược Nam Hán, Tống đều có quân Châu Ái “vác nỏ đi đầu”. Thời Trần là hậu cứ vững chắc cũng là trận tuyến chống quân Nguyên. Nhà Minh xâm lược, đô hộ (1407 - 1427) Thanh Hóa là cứ điểm của các cuộc kháng chiến do nhà Hồ, các quý tộc nhà Trần lãnh đạo. Là căn cứ địa của khởi nghĩa Hoàng Nghiêu của Nguyễn Chích (1410 - 1420) và khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi (1418 - 1428). Tháng 1 năm 1789, Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến đánh Thăng Long đã, tuyển quân, làm lễ thệ sư (hội thề toàn quân) ở làng Thọ Hạc (phường Đông Thọ - TP Thanh Hóa). Tráng đinh Thanh Hóa nô nức tòng chinh: “Anh đi theo chúa Tây Sơn / Em về cày cuốc mà thương mẹ già” góp phần làm nên chiến công hiển hách đại phá 26 vạn quân xâm lược Thanh. Cuối thế kỷ XIX, hưởng ứng chiếu Cần Vương (1885) phong trào chống Pháp rộng lớn nổ ra kéo dài hơn 10 năm khắp miền xuôi, miền núi. Tên tuổi những người anh hùng chống Pháp buổi đầu tiên như Phạm Bành, Tống Duy Tân, Trần Xuân Soạn, Nguyễn Đôn Tiết, Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Phương, Nguyễn Viết Toại, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao,...thật sự là “chính khí dậy non sông”, “danh vang cùng vũ trụ”.
Con đường cứu nước Cần Vương hay Duy Tân đều thất bại, đến những năm 20 của thế kỷ XX là “Đường cách mạng” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Chỉ sau đó hơn 5 tháng, ngày 29 tháng 7 Đảng bộ Cộng sản Thanh Hóa ra đời. Rõ ràng lòng yêu nước vốn tiềm tàng trong mỗi người dân Thanh Hóa đã đập cùng nhịp đập với sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Sau 15 năm chịu không ít hy sinh mất mát, vượt qua nhiều thử thách gian lao, cuối cùng trong không khí tổng khởi nghĩa sục sôi cả nước, nhân dân toàn tỉnh đã thực hiện thành công Cách mạng tháng 8 - 1945. Thanh Hóa từ đây trở thành một tỉnh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
III- GIÁO DỤC THANH HÓA TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8
Ngay trong đêm trường Bắc thuộc ở Thanh Hóa đã có người lặn lội sang tận kinh đô Trung Quốc tỏ rõ ý chí, tài năng, học vấn. Đó là anh em Khương Công Phụ, Khương Công Phục, người làng Cổ Hiểm, phường Sơn Ôi, nay là làng Tường Vân, xã Định Thành, Yên Định. Hai ông đều đỗ tiến sĩ (năm 784) và làm quan nhà Đường. Đến thời phong kiến tự chủ hiếu học trở thành truyền thống gia đình, khuyến học trở thành phong tục làng xã mà quan điểm giáo dục được tuyên ngôn cũng hết sức đúng đắn: “Khơi cái nguồn văn minh, đạo lí cho người đời để mong cánh cửa tà vạy, cong queo vĩnh viễn đóng lại, con đường công bằng, trong sạch đi lại thung dung. Con đường phò đời giúp nước thật sự thái bình” (Trần Ân Chiêm). Thanh Hóa, nhiều làng có văn chỉ, ghi trong hương ước những quy định về sự học. Có nơi lập ra làng Văn, nơi sinh hoạt của học trò, gia đình có truyền thống học tập. Lại lập hẳn Bảng môn đình nêu danh người đỗ đạt như ở Hoằng Lộc, Hoằng Hóa. Nhà học hầu như làng nào cũng mở. Đã có những trường nổi tiếng, những bậc danh sư. Trường Mai Trai của Lê Văn Linh đầu thế kỉ XV. Trường của Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, thầy học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Hội Triều, Hoằng Hóa hồi đầu thế kỉ XVI. Trường Châu Bối (Định Tường, Yên Định) của ông nghè Trần Ân Chiêm. Từ năm 1724 đến 1732, ba học trò đỗ bảng nhãn, thám hoa, tiến sĩ. Giữa thế kỉ XIX có Nghi Am học hiệu của Nhữ Bá Sĩ (Hoằng Hóa). Lại có những gia đình  khoa bảng tiêu biểu như gia đình Lê Hữu Du, Hậu Lộc. Ông làm An phủ sứ Lạng Sơn thời cuối Trần. Ba người con tuẫn tiết theo cha, vì không muốn rơi vào tay giặc Minh. Theo thống kê của tác giả sách “Những nhà khoa bảng xứ Thanh” (NXB Thanh Hóa, 2011) thời phong kiến Thanh Hóa có hơn 1637 tiến sĩ, cử nhân.
Thanh Hóa quả là vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú (1782-1840) học giả nổi tiếng thời phong kiến viết: “Thanh Hóa mạch núi cao chót vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông,...Các triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng,...là nơi căn bản. Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại nảy ra nhiều văn nho,… Bởi  vì đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường; vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước”(3). Còn khâm sứ Trung Kỳ P.Pát-xki-ơ (sau này là toàn quyền Đông Dương) thì nhận xét: “Thanh Hóa níu giữ và quyến rũ như một vùng có nhiều kỷ niệm về quá khứ, giàu truyền thuyết và vĩ đại,...Vào những giờ phút thử thách, đối với nước An Nam, Thanh Hóa còn hơn cả Hà Nội. Đây là thánh đường bảo tồn mọi kỳ vọng của chủng tộc. Từ miền đất đã được chọn lọc ấy, để bảo vệ nơi an nghỉ tôn nghiêm của tổ tiên và bao đời vua chúa, đã xuất hiện những anh hùng lừng lẫy và tài ba nhất của lịch sử”(4). 
Tuy nhiên khi thực dân Pháp xâm lược (1858), đặt ách đô hộ (cuối thế kỷ XIX) qua 2 lần khai thác thuộc địa, Thanh Hóa cũng như cả nước triệt để bị bóc lột. Nhân dân bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, kinh tế tiêu điều, xơ xác. Nền giáo dục lại càng thu hẹp đến thảm thương bởi chính sách ngu dân. Toàn quyền Méc-lanh trong bài diễn văn đọc tại phiên họp thường kỳ Hội đồng cai trị toàn Đông Dương năm 1923 đã ngang nhiên tuyên bố: “Chỉ cung cấp cho nhân dân Việt Nam một sự giáo dục nhỏ giọt, phát triển theo chiều nằm chứ không theo chiều đứng”.  Thanh Hóa thời ấy là một trong những địa phươngchịu sự hạn chế giáo dục nặng nề nhất. Khoảng 95% dân số từ 10 tuổi trở lên mù chữ. |Đến năm 1927, dân số trên dưới 1 triệu người chỉ có khoảng 7000 học sinh, mươi trường tiểu học, trong đó vài trường hoàn chỉnh (đủ 5 lớp, từ lớp 1 đến lớp 5) chủ yếu cho con em gia đình giàu có, quan lại. Năm 1931 mới thành lập 1 trường tương đương trung học cơ sở bây giờ với 1 lớp đầu cấp (như lớp 6), 30 học sinh. Khai giảng năm học đầu tiên dưới chính thể dân chủ cộng hòa, toàn tỉnh cũng chỉ có 182 trường tiểu học phần lớn chưa hoàn chỉnh và 1 trường trung học (cơ sở) công lập, tổng cộng 324 giáo viên.

File đính kèm: