linh tây tower

Ca dao - tục ngữ - thành ngữ về Rồng

 

Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa

- Cá chép hóa rồng

- Cá gặp nước, rồng gặp mây

- Chồng sang đi võng đầu rồng

  Chồng hèn gánh nặng đè còng cả lưng

- Có phúc trúc hóa long (rồng)

- Con rồng cháu tiên

- Cửu long phún thủy

- Chạm phải vảy rồng

- Dựa mạn thuyền rồng

- Đẹp như rồng bay phượng múa

- Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng

- Nước chảy lòng ròng, như long cuốn thủy

- Mấy khi rồng mới gặp mây, để rồng than thở với mây vài lời

 Kẻo mai rồng ngược mây xuôi, biết bao giờ lại nói lời rồng mây

- Rồng đen lấy nước thì nắng, rồng trắng lấy nước thì mưa

- Rồng vờn hạt ngọc

- Rồng đến nhà tôm

- Rồng lội ao tù

- Rồng thất thế hóa thành rắn

- Rồng tranh hổ chọi

- Rồng theo mạ, quạ theo gà con

- Rồng vàng tắm nước ao tù, người khôn ở với người ngu, bực mình

- Rồng đen lấy nước được mùa, rồng bạch lấy nước vợ vua đi cày

- Lưỡng long chầu nguyệt

- Thêu phượng vẽ rồng

- Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu

- Trên lưng chẳng có một đồng, cười nói như rồng cũng chẳng ai nghe

- Thế gian được vợ mất chồng, có phải như rồng mà đẹp cả đôi

- Vẽ rồng nên giun

- Xấu có cấu (gạo) nuôi chồng, đẹp như rồng để chồng chết đói.

  Đoàn Thị Đắc (ST- BS)

Hỡnh tửụùng con Roàng Vieọt Nam

Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt 

trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam và đã từng là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết con rồng cháu tiên của người Việt. Rồng là hình ảnh mà các vua Việt Nam phải xăm lên đùi mình để giữ truyền thống của cư dân ven biển. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm rồng trên đùi của các vua. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử (bệ rồng, mình rồng). Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là vật linh đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân, quy, phụng”. Vì thế, hình tượng con rồng Việt Nam tương phản với hình tượng con rồng độc ác, tượng trưng cho cái xấu của các nước phương Tây.

Hình tượng rồng đã được hình dung lên từ thời đại Hùng Vương qua con vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng thời ấy.

Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh “rồng bay lên” Thăng Long tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn. Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thân trơn nếu là con nhỏ, còn con lớn thì thân có vẩy và lưng có vây. Thân rồng uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình “Omega”, mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào rồng có dạng ngọn lửa, vì thế được gọi là mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ “S”, cổ tự của chữ “lôi”, tượng trưng cho sấm sét, mây mưa.

Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Rồng thời Trần không còn mang nặng ý nghĩa mơ ước nguồn nước nữa. Dạng tự chữ “S” dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.

Rồng thời Lê (thế kỷ XV) thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài rắn uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), qui (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).

Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.

Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.

Hiện nay hình tượng con rồng tuy không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật... Trong mọi thời điểm nào, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.

Xuân Nhâm Thìn đang đến, hình tượng “rồng bay lên” như một mong ước của mọi người dân đất Việt về một năm mới an khang, thịnh vượng./.

Lê Thuật (st từ Internet)

Tửứ “Leọ Troàng caõy”

ủeỏn “Teỏt Troàng caõy”

Theo sử sách, từ thời Lý cách nay ngàn năm 

đã có “Lệ trồng cây” do triều đình quy định, để các triều thần mỗi người phải trồng một cây, mà phải là cây làm cho Kinh thành đẹp, phố phường mát mẻ. Cho nên thời ấy, giống cây được chọn cho “Lệ trồng cây” là cây liễu, cây hòe, cây sấu hoặc cây muỗm... 

Chứng nhân của “lệ” ấy là cây hòe, về sau đã thành tên phố “Hòe Nhai” dài 396m đi từ đường Yên Phụ đến phố Phan Đình Phùng. Đây nguyên là địa phận thôn Thạch Khối Thượng thuộc tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận cũ. Quy định của triều Lý trồng cây trên con đường từ Hoàng Thành ra tới bến Đông. Từ tên một con đường là Hòe Nhai, được lấy làm tên thôn cũng là Hòe Nhai. Rồi chùa Hồng Phúc ở thôn này cũng được gọi là chùa Hòe Nhai.

Con đường thứ hai mang tên một loài cây, đó là đường Liễu Giai. Đường này đi từ phố Đội Cấn đến phố Kim Mã, dài 730m. Đây là một phố mới mở khoảng cuối những năm 1980, do san lấp các ao hồ của làng Liễu Giai và Kim Mã Thượng. Lịch sử viết rằng: Liễu Giai xưa vốn là một trong 10 trại, hợp thành tổng Nội của huyện Vĩnh Thuận cũ. Liễu Giai có nghĩa là con đường trồng liễu và có người biết rằng làng này vào thời Lý - Trần, có nhiều tư gia, dinh thự của các ông hoàng, bà chúa. Ven đường đi vào làng trồng các dãy liễu, về sau tên chữ là Liễu Giai.

Đến thời đại Hồ Chí Minh tuy không đề ra “luật” hoặc “lệ” trồng cây nhưng Bác Hồ đã phát động phong trào “Tết trồng cây” vào năm 1960 với ý nghĩa rất sâu sắc: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Khác với “lệ trồng cây” thời nhà Lý, “Tết trồng cây” thời nay là nhằm phủ xanh đồi hoan núi trọc chủ không chỉ trồng cây trang trí Hoàng thành và Kim thành.

Điểm khác nữa là thời nhà Lý chỉ quy định các quan đại thần phải trồng cây, còn thời đại Hồ Chí Minh thì vận động tất cả toàn dân tham gia trồng cây và bao gồm nhiều giống cây. Chính người đứng đầu nước Việt Nam phát động “Tết trồng cây” là Người đã bền bỉ nhất, gương mẫu nhất, dẫn đầu phong trào này. Nhiều cây xanh do Bác trồng nay đã thành cổ thụ và mang ý nghĩa một di tích lịch sử, văn hóa, như: Cây đa ở xã Vật Lại, tỉnh Sơn Tây cũ đã đi vào nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, cây đa tại huyện Đông Anh, Hà Nội, cạnh đường số 2, nay xum xuê bóng mát. Chính khi trồng cây đa này, Bác Hồ đã nói với anh chị em công nhân và học sinh, sinh viên tham gia “ngày thứ 7 cộng sản” có mặt trên công trường Thống Nhất: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Từ khi Bác Hồ phát động phong trào “Tết trồng cây”, tính đến nay đã tròn 50 năm, chưa một cơ quan hay đoàn thể nào đứng ra tổng kết xem phong trào “Tết trồng cây” đã có hiệu quả trên từng mặt như thế nào? số lượng gỗ, số lượng hecta rừng núi đã được phủ xanh và khả năng chống xói mòn, sụt lở v.v... Tuy chưa có con số tổng kết cụ thể, nhưng cả nước ta ai cũng nhìn thấy cái lợi to lớn của phong trào và tuy Bác đã đi xa hơn 40 năm, nhưng cả ba miền Bắc, Trung, Nam hằng năm vẫn tích cực thực hiện ý nguyện của Người:

 Mùa xuân là Tết trồng cây

   Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Dương Hoa Nam (st)

Rồng là con vật trường tượng của người xưa, 

nó không có thật, nhưng lại có sức sống mãnh liệt trong tâm linh của người Việt từ rất xa xưa... nó được lưu truyền từ đời này qua đời khác như một dòng chảy thời gian bất tận... 

Từ thuở hồng hoang của thời tiền sử, dân tộc Việt Nam đã rất tự hào mình là dòng dõi của “Con Rồng cháu Tiên” đầy bí ẩn của huyền thoại ly kỳ... 

     Trứng rồng lại nở ra rồng

Liu điu lại nở ra dòng liu điu (ca dao)

Rồng đứng hàng đầu trong tứ linh: long, ly, quy, phượng, biểu hiện sự thiêng liêng thành kính của người xưa. Rồng đứng hàng thứ 5 trong 12 con giáp, phối hợp với 12 địa chi, gọi là Thìn và giờ của một ngày đêm từ khoảng 7h sáng đến 9h sáng được gọi là “long thời” (giờ Rồng). Rồng là biểu hiện tượng của sức mạnh, của sự tự do, phóng khoáng của con người. Không phải ngẫu nhiên mà trong tập “Nhật ký trong tù” Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết những câu thơ thật sảng khoái, bay bổng diệu kỳ:

Mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới

Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ.

ở các nước phương Đông, nhất là Việt Nam và Trung Quốc, rồng được coi là Long vương, có thể bay lượn, biến hóa khôn lường.

Khổng Tử (551 -479) một nhà tư tưởng lớn thời cổ, sau khi vấn Lễ với Lão Tử đã nói: “Con chim nó bay có thể dùng tên, còn con rồng, ta không thể biết được, nó cưỡi mây bay mù lên trời, hôm nay ta ra mắt Lão Tử, ông ấy cũng như rồng vậy”. (Dẫn theo “Bách Gia Chư Tử”, “Đất Sống” - Sài Gòn 1973 trang 239). Rồng biểu tượng cho sự vùng vẫy, bay lượn để thỏa chí tang bồng của những đấng nam nhi.

Tào Tháo trong truyện Tam Quốc, khi uống rượu luận anh hùng với Lưu Bị đã đề cập đến hình tượng con rồng: “Rồng lúc thì to, lúc thì nhỏ, lúc thì bay, lúc thì nấp. Lúc to thì nổi mây phun mù, lúc nhỏ thì thi hình ẩn bóng, khi bay ra thì liệng trong trời đất, khi ẩn thì lẩn núp ở dưới sóng. Nay đang mùa xuân, rồng gặp thời biến hóa cũng như là người ta lúc đắc chí, tung hoành trong bốn bể: Rồng ví như anh hùng trong đời”.

Rồng còn tượng trưng cho sự học hành đỗ đạt của người xưa trong hình ảnh “Long vân khánh hội” (Rồng mây gặp hội) hoặc trong ca dao:

... 

... Trời sinh trời chẳng phụ nào

Long vân gặp hội anh hào ra tay

Trí khôn sắp để dạ này

Có công mài sắt có ngày nên kim

Rồng cũng có mặt trong cuộc vượt Vũ môn như ở Trung Hoa có vực sâu ở sông Trường Giang, tỉnh Tứ Xuyên, tương truyền mùa thu, cá tới đó nhảy thi, con nào vượt qua Vũ môn thì hóa rồng. Nước ta ở huyện Hương Khê, Hà Tĩnh cũng có vực sâu và cũng tương truyền như vậy... đồng thời còn ám chỉ việc học trò thi cử ngày xưa phải vượt qua những quy chế nghiêm ngặt để chiếm được bảng rồng.

Trong cảm quan của người Việt, rồng tượng trưng cho nét đẹp, nét tự hào của dân tộc, hình rồng trên trống đồng cổ, hình rồng xăm mình của người Việt cổ qua bao thế hệ chẳng chút phai mờ... Vua Trần Nhân Tông đã từng nói: “Nếp nhà ta theo nghề võ, cho nên xăm hình rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc”. Hình tượng con rồng đã đi vào cuộc sống thường nhật của người dân, ta bắt gặp trên dải đất Việt Nam, khắp các đình, chùa, miếu mạo đâu đâu cũng có những hình vẽ, chạm khắc về rồng ở trên nóc và ở các mái đao cũng như các khung bên trong và bên ngoài kiến trúc... rồi nào là: “Lưỡng long chầu nguyệt”, “long vân khánh hội” v.v... đến các điệu múa dân gian: “múa rồng”... các trò chơi dân gian: “Rồng rắn lên mây”... và đến đồng hồ khắc hình rồng.

       Giọt rồng canh đã điểm ba (Kiều)

Rồng lại còn có mặt ở các địa danh, nào là Bái Tử Long, Vịnh Hạ Long, kỳ quan mới của thế giới ngày nay! Rồi cầu Long Biên đã 100 năm có lẻ... chúng ta lại có cả Đền Rồng thờ Liễu Hạnh công chúa ở Hà Trung Xứ Thanh (1)... 

Rồng còn đi vào cuộc trường chinh chống giặc giữ nước của dân tộc. Từ chiến công lừng lẫy của Quang Trung dùng “rồng rơm” đốt cháy quân Thanh cho đến “rồng lửa” thời Hồ Chí Minh thiêu rụi pháo đài B52 của Mỹ trong 12 ngày đêm rực lửa trên bầu trời Thăng Long - Hà Nội! Và cũng tự hào thay, từ thế Rồng Bay - Thăng Long với Lý Công Uẩn cách đây hơn 1 thiên niên kỷ, đã ghi một mốc son lịch sử chói lọi của nước Đại Việt - mà thế hệ ngày nay đang tiếp nối tung cánh vươn lên với khí thế Rồng bay trong thời đại mới.

Năm Rồng - dấu ấn Rồng bay như vẫn còn phảng phất đâu đây... 

Và cũng thật ngẫu nhiên và cũng rất lạ kỳ - về những sự gặp gỡ bất ngờ trong lịch sử... “Thăng Long hành khúc” của nhạc sĩ Văn Cao như vẫn còn vang vọng... 

Ơi Thăng Long! Ơi Thăng Long! Ơi Thăng Long ngày nay!

Dân trí sống yên vui chờ gió mới theo về... 

... Thăng Long đã đi cùng năm tháng với tướng quân Huỳnh Văn Nghệ:

  Từ thuở mang gươm đi mở cõi

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

                                        Ngày 4/12/2011

                                      Nhà giáo Đặng Anh

 
File đính kèm: