linh tây tower

Những năm Thìn đáng nhớ trong lịch sử nước ta


Nguyễn Xuyến

Năm Giáp Thìn 257 trước công nguyên: An Dương Vương lên ngôi, hợp nhất nước Văn Lang của người Lạc Việt với âu Việt ở phía Bắc nước Văn Lang, lập nên nước âu Lạc. Kinh đô là Phong Khê (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội).

- Năm Mậu Thìn 248: Nữ Anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh đã cùng anh là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa ở vùng núi Dưa và núi Quan Yên (Thanh Hóa). Nhà Ngô đem quân sang đàn áp. Bà Triệu hy sinh trên núi Tùng, ngày 21 tháng 2 năm Mậu Thìn.

- Năm Mậu Thìn 548: Lý Nam Đế (Lý Bí) mất. Ông là người từng xưng Nam Việt Đế, đánh đuổi quân nhà Lương, giành quyền tự chủ cho đất nước, đặt tên nước là Vạn Xuân.

- Năm Giáp Thìn 944: Ngô Quyền làm vua được 5 năm, rồi mất (939 - 944). Ông là người đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938.

 - Năm Mậu Thìn 968: Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế (thường gọi là Đinh Tiên Hoàng), xưng Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), mở đầu triều đại nhà Đinh.

Vua Đinh Tiên Hoàng cho đặt vạc lớn ở sân chầu và nuôi hổ trong chuồng để xử những kẻ tội nặng, chống lại triều đình. Đây là bước đầu của nền móng luật hình phép nước.

 - Năm Canh Thìn 980: Nhà Tống đem quân sang xâm chiếm nước ta. Tháng 8/980, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được trao quyền tổ chức kháng chiến. Triều thần và Hoàng Thái Hậu trao ngôi vua. Lê Hoàn lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Phúc, xưng Đại Hành Hoàng đế.

 - Năm Canh Thìn 1040: Vua Lý Thái Tôn xuống chiếu dùng gấm vóc trong nước để may lễ phục cho vua quan trong triều, không được dùng gấm vóc của nước ngoài để “giữ đức kiệm ước, không quý vật lạ”.

 - Năm Nhâm Thìn 1052: Vua Lý Thái Tông lệnh cho đúc một quả chuông lớn đặt ở gần cung đình và cho phép dân, ai có oan ức muốn bày tỏ thì đánh chuông để tâu lên nhà vua.

 - Năm Bính Thìn 1076: Ngày 1/3/1076, Lý Thường Kiệt đã hoàn thành thắng lợi cuộc tập kích đánh chiếm thành Ung Châu (Trung Quốc). Nhà Lý mở Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên ở kinh đô, chọn nhân sĩ, người tài trong nước.

 - Năm Nhâm Thìn 1232: Nhà Trần mở khoa thi thái học sinh.

 - Năm Giáp Thìn 1244: Vua Trần Thái Tông cải tổ lại hành chánh cả nước gồm 12 bộ và cho nghiên cứu định ra bộ luật hình.

 - Năm Canh Thìn 1400: Nhân lúc triều Trần suy yếu, Hồ Quý Ly phế truất vua Trần, lập một triều đại mới: Nhà Hồ (1400 - 1407).

 - Năm Mậu Thìn 1448: Vua Lê Nhân Tông có dụ răn giới quan lại phải liêm khiết, không mượn tiếng việc công để lo việc tư. Khi xét kiện, không được nhận hối lộ mà bẻ cong phép nước. Một viên quan lại ẩn lậu 5 quan tiền thuế đã bị xử tội chết.

 - Năm Canh Thìn 1460: Vua Lê Thánh Tông ra quyết sách quan trọng:

1. Ai có nhiều thóc tình nguyện đem nộp cho Nhà nước thì tùy theo số thóc nộp lên mà được thưởng phẩm tước. Đây là khởi nguyên của công trái quốc gia.

2. Định ra lệ mỗi tháng ba lần phải xét việc kiện tụng và trình lên trên để ra quyết định.

- Năm Giáp Thìn 1484: Vua Lê Thánh Tông xuống ba chiếu:

1. Cấm mua bán ức hiếp (ép giá).

2. Nếu không phải dịp tế lễ, cưới xin, ma chay mà vô cớ tụ họp ăn uống thì phải trị tội theo pháp luật.

3. Cấm quan viên trong triều và các địa phương nhận tiền đút lót của dân.

Nhà vua còn cho lập bia tiến sĩ đặt tại Văn Miếu (Thăng Long) để khắc ghi tên tuổi các vị đỗ tiến sĩ từ khoa Đại Bảo thứ ba đến 1484. Từ đó về sau, Văn Miếu tiếp tục được dựng bia tiến sĩ.

- Năm Giáp Thìn 1785: Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút của quân Tây Sơn đối với quân Xiêm xâm lược và quân tay sai Nguyễn ánh (đêm 9 rạng ngày 10 tháng chạp năm Giáp Thìn tức đêm 19 rạng ngày 20/11/1785). Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút đã đi vào lịch sử chói lọi của dân tộc ta như những Bạch Đằng, Chi Lăng, Ngọc Hồi - Đống Đa...

- Năm Canh Thìn 1820: Đại thi hào Nguyễn Du qua đời.

- Năm Giáp Thìn 1904: Duy Tân Hội, một tổ chức cách mạng do cụ Phan Bội Châu thành lập, ra đời ở Quảng Nam.

- Năm Bính Thìn 1916: Tháng 5/1916, cuộc khởi nghĩa ở Huế do Thái Phiên, Trần Cao Vân lãnh đạo bùng nổ.

- Năm Mậu Thìn 1928: Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội thực hiện phong trào: “Vô sản hóa”. Ngày 14/7/1928, Tân Việt cách mạng Đảng (gọi tắt là Đảng Tân Việt), một đảng của tầng lớp trí thức tiểu tư sản ra đời ở Huế.

- Năm Canh Thìn 1940: Ngày 6/11/1940, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Đình Bảng, Bắc Ninh do đồng chí Trường Chinh, Quyền Tổng Bí thư chủ trì, quyết định phát triển khởi nghĩa Bắc Sơn và hoãn hởi nghĩa Nam Kỳ.

- Năm Giáp Thìn 1964: Trong hai ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, lấy cớ đánh phá miền Bắc nước ta. ở miền Nam, Mỹ thực hiện kế hoạch Giôn -xơn -Macnamara nhằm bình định miền Bắc trong vòng hai năm 1964 - 1965.

- Năm Bính Thìn 1976: Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI, Quốc hội chung của cả nước, đã thành công rực rỡ. Tháng 6/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã long trọng tuyên bố hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước và quyết định đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tháng 12/1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4 của Đảng Lao động Việt Nam quyết định đổi tên Đảng thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội lần thứ tư của Đảng là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc; là Đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là Đại hội thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa./.

File đính kèm: