linh tây tower

GIÁO DỤC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA MÔ HÌNH VƯỜN LỊCH SỬ

Thạc sĩ  Hoàng Xuân Khánh

HT trường TH Minh Khai 1, TP Thanh Hóa

Hưởng ứng phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, xuất phát từ tình hình thực tế và điều kiện cho phép, trong năm học 2010-2011, trường tiểu học Minh Khai 1, TP Thanh Hóa đã xây dựng thành công “Vườn Lịch sử xứ Thanh”, một giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử, giúp học sinh tích cực, chủ động, hứng thú trong việc tiếp thu và nhớ về kiến thức lịch sử. 

Chúng tôi xin trao đổi về cách làm và nội dung của vườn. Kính mong được các cấp quản lí và đồng nghiệp chia sẻ, góp ý.

I. Thiết kế vườn

 Chúng tôi dành khoảnh đất ngay đầu cổng trường, có diện tích khoảng 300m2, được đổ đất tạo thành những vùng lồi lõm và được cấy cỏ, trồng cây xanh, đặt các tảng đá gắn biển tượng trưng cho một số sự kiện lịch sử tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa qua các thời kì dựng và giữ nước. Các sự kiện này ít nhiều đều được đề cập trong nội dung kiến thức môn Lịch sử & Địa lí của bậc học và được khuyến khích tự chọn trong phần mềm giáo dục lịch sử địa phương.

Chính vị trí của vườn được đặt ngay bên cổng trường, rất dễ quan sát nên hàng ngày học sinh và phụ huynh luôn được trực quan tiếp xúc. Vườn cũng tạo nên một không gian thân thiện học đường bổ ích.

II. Chọn các khối đá biểu trưng

Thanh Hóa là vùng đất địa linh nhân kiệt, lắm vua nhiều chúa, nhiều sự kiện - địa danh - nhân vật lịch sử được đưa vào dạy học trong chương trình phổ thông. Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn 9 điểm nhấn tiêu biểu để dựng các khối đá ghi danh sự kiện lịch sử trong không gian tiểu cảnh giáo dục lịch sử địa phương. Và, để có ý nghĩa, 9 tảng đá ấy được lấy từ các vùng đất diễn ra sự kiện hoặc có hình thức biểu cảm sự kiện lịch sử. (Cụ thể: có 7 khối đá được lấy từ địa danh lịch sử như làng Đông Sơn; cầu Hàm Rồng; núi Đọ, đá Hà Trung...; riêng Thành Nhà Hồ sử dụng mô hình đá mô phỏng và khởi nghĩa LAM SƠN chọn tảng đá hình cụ rùa, gợi nhớ truyền thuyết vua Lê với Rùa vàng). 

Thuyết minh kiến thức lịch sử của 9 khối đá biểu trưng: 

- Mỗi khối đá đều có biển đồng khắc ghi tên sự kiện lịch sử (là dòng tiêu đề được ghi đậm nét dưới đây).

- Có hệ thống pa-nô (gồm chữ và ảnh minh hoạ) thuyết minh cho các sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử một cách ngắn gọn, xúc tích để ai đọc cũng hiểu và nắm được ý cốt lõi. Cụ thể:

1. Núi Đọ (di chỉ người Việt cổ) 

Núi Đọ nằm cách TP Thanh Hóa khoảng 5km đường chim bay về phía Tây Bắc, thuộc các xã Thiệu Tân, Thiệu Vân, Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa. 

Núi Đọ được biết đến và nổi tiếng với những di tích lịch sử, văn hóa có liên quan đến lịch sử xuất hiện con người và sự phát triển văn hóa trong dòng chảy của lịch sử. Tại chân núi phía Nam của núi Đọ, các nhà khảo cổ đã phát hiện một di tích khảo cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, có niên đại khoảng 4.000 năm.

2. Làng Đông Sơn (khởi danh một nền Văn hóa)

Làng thuộc địa phận phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa.

Làng Đông Sơn là làng Việt cổ có vị trí rất lớn là đại diện cho cả một giai đoạn lịch sử văn minh Đông Sơn - Trống đồng Đông Sơn.

Phát hiện về di tích làng cổ Đông Sơn với niên đại hơn 2.500 năm đã mở ra chương mới cho việc nghiên cứu văn minh Việt cổ thời dựng nước đầu tiên: nền Văn hoá Đông Sơn.

3. Hàm Rồng: (Hàng trăm máy bay rơi)

Cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, phía Bắc thành phố Thanh Hóa.

Đây là cây cầu rất nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam, là trọng điểm đánh phá của Mỹ nhằm cắt đứt giao thông huyết mạch Bắc - Nam của ta. Tại đây đã diễn ra nhiều trận chiến đấu ngoan cường, quyết liệt giữa quân dân ta và không quân Mỹ. Chỉ trong hai ngày 3-4/4/ 1965, quân và dân Hàm Rồng - Nam Ngạn đã bắn rơi 47 máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn cầu Hàm Rồng. Không lực Hoa Kỳ liên tục đánh phá cầu với cường độ rất cao và với các chiến thuật khác nhau. Các đơn vị bảo vệ cầu đã chiến đấu hàng trăm trận, bắn rơi 106 máy bay các loại. Chiến thắng Hàm Rồng đã trở thành một biểu tượng anh hùng của quân và dân Thanh Hóa.                                                                                            

Chiến khu Ba Đình (Nga Sơn)

Ba Đình là cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, diễn ra vào năm 1886-1887 tại Ba Đình, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.    

Khởi nghĩa Ba Đình nổ ra dưới sự chỉ huy chính của Đinh Công Tráng, Phạm Bành và một số tướng lĩnh khác.

Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại đối phương đông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân hiện đại.                                                 Cuộc khởi nghĩa Ba Đình được lịch sử đánh giá rất cao.    

Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn tên Ba Đình để đặt cho Quảng trường Ba Đình, nơi đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

4. Thành Nhà Hồ (kiến trúc độc đáo)

Thành Nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc, phía Tây thành phố Thanh Hóa. 

Đây là thành cổ duy nhất được xây dựng bằng đá, gắn với một triều vua tuy ngắn (1400 -1407) nhưng đã có những cách tân đáng ghi nhận như cải cách thi cử, mở mang trường học, đề cao chữ nôm, phát hành giấy bạc.

Thành do Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397. Tương truyền thành này chỉ xây có ba tháng thì xong. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo. Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá xanh, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau. Các phiến đá có chiều dài trung bình 1,5m, có tấm nặng tới 15-20 tấn.             

5. Xuân Lập (nơi sinh vua Lê Hoàn)

Lê Hoàn, 941 - 1005, là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Trong lịch sử Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp lớn trong chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt. 

Đền thờ Lê Hoàn nằm ở làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Trong đền còn lưu giữ nhiều đồ vật quý, đặc biệt có một đĩa bằng đá trắng, đường kính 36cm trong lòng đĩa ghi chữ: “Giang Nam nhất phiến tuyết; Trác khí vạn niên trân”.                                        

6. Ngàn Nưa (Khởi nghĩa Bà Triệu)

Núi Nưa là ngọn núi thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Theo truyền thuyết, núi Nưa là nơi bà Triệu tập trận khi khởi nghĩa chống lại quân Ngô. Bà Triệu, còn gọi là Triệu Thị Trinh (225-248), là một trong những vị Anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Năm Mậu Thìn (248) thấy quan lại nhà Đông Ngô (Trung Quốc) tàn ác, dân gian khổ sở, bà Triệu bàn với anh việc khởi binh chống lại. Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh giặc. Khi ra trận, bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân. 

7. Lam Sơn (nhà Lê dấy nghĩa)

Khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo, kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt, thành lập nhà Hậu Lê, một vương triều lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam (360 năm, từ 1428-1788).

Lê Thái Tổ sau 10 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1428) giành thắng lợi và lên ngôi hoàng đế đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long), lấy niên hiệu là Thuận Thiên thứ nhất. Đồng thời cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một kinh thành gọi là Lam Kinh hay còn gọi là Tây Kinh.

Khu di tích lịch sử Lam Kinh cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là một di tích lịch sử cấp quốc gia.                                

9. Hà Trung (quý hương nhà Nguyễn)

Gia Miêu ngoại trang là quê hương của 9 chúa, 13 vua triều Nguyễn: bắt đầu từ 1558, kết thúc năm 1945, kéo dài 387 năm. Một chặng đường lịch sử dằng dặc...

Vua Gia Long, từ hơn 200 năm trước đã phong cho Gia Miêu (xã Hà Long, tỉnh Hà Trung, Thanh Hóa) là đất quý hương.

Các vua chúa Nguyễn chính là triều đại đã mở cõi tạo nên dáng hình Tổ quốc hôm nay. Công lao đó là vô cùng lớn. Đó là điều không thể phủ nhận. Nguyễn Phúc ánh, tức vua Gia Long, năm 1802, lên ngôi Hoàng đế đặt niên hiệu là Gia Long (Gia là Gia Định, Long là Thăng Long), thể hiện ý thức quyết liệt của mình. Đó là việc thống nhất toàn vẹn đất nước. 

   III. Tác dụng

1. Vườn Lịch sử là một giải pháp hỗ trợ tích cực cho việc dạy và học môn lịch sử đạt chất lượng cao. Giáo viên và học sinh có thể tổ chức dạy học các bài học có liên quan ngay tại vườn. Điều này giúp đổi mới hình thức và phương pháp dạy học. Học sinh được thay đổi động hình, có hứng thú tìm hiểu, tích cực nhận thức nên kết quả là hiểu bài sâu và nhớ lâu.

Vườn cũng là không gian thư giãn thân thiện nên học sinh và cư dân lân cận thích vào chơi, đi dạo, nên tự bản thân vườn đã là một giáo cụ trực quan sống động giáo dục kiến thức lịch sử cho học sinh và cộng đồng.

2. Ngoài nội dung kiến thức sách giáo khoa dùng chung cho toàn quốc. Trong chương trình khung do Bộ GD&ĐT quy định cho bậc tiểu học còn có 5 tiết giáo dục lịch sử, địa lí địa phương. Chúng tôi dựa vào cơ sở vật chất và ý nghĩa của vườn để tổ chức các cuộc thi vui học - học vui và biên soạn tư liệu dạy sâu hơn về các vấn đề lịch sử địa phương. Ví dụ: chúng tôi tổ chức các cuộc thi viết ngắn về lịch sử như Thi tìm hiểu về Bà Triệu; Lê Hoàn; Lê Lợi; nhà Nguyễn....

3. Tác dụng lan toả

Có một việc chúng tôi vừa buồn vừa giật mình, lo cho sự quan tâm đến lịch sử nước nhà của dân ta. Đó là khi một số đông người xem tảng đá và lời thuyết minh về Chiến khu Ba Đình. Họ chợt nói to:

- Thế là tên Quảng trường Ba Đình, nơi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập lại có xuất xứ từ Thanh Hóa. Ba Đình chính gốc lại ở huyện Nga Sơn à?

Từ ngạc nhiên, sau đó là tự hào. Họ liên hệ tên Ba Đình được đặt ở nhiều nơi khắp mọi miền đất nước. Tin chắc rằng, kiến thức này sẽ hằn sâu trong tâm thức họ.

4. Thay cho kết luận

Mô hình “Vườn Lịch sử xứ Thanh” là một công trình cụ thể hoá phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ GD&ĐT phát động của trường tiểu học Minh Khai 1, TP Thanh Hóa; đạt các tiêu chí chính:

- Tạo dấu ấn cảnh quan cho không gian trường thêm đẹp, nhân văn, thân thiện.

- Tạo được giải pháp mới để nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử.

- Thiết thực giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống của dân tộc.

- Tạo gắn kết giữa nhà trường, địa phương và xã hội. Phát huy các nguồn lực xã hội chung lo cho giáo dục.

- Làm cho cán bộ giáo viên, học sinh thêm yêu trường lớp. Khích lệ niềm tự hào, khêu gợi sự sáng tạo, tự tin trong việc học và hành.

Hình ảnh các khối đá biểu trưng và biển khắc ghi danh đặt trong vườn Lịch sử:

 

 
File đính kèm: